Hỏi đáp

Chim cánh cụt sống ở đâu ???

Chim cánh cụt sống ở đâu?

Ngày 29 tháng 10 năm 2019 bởi Trước khi viết bài này, tôi – sắp trở thành một người cha, ba mươi tuổi và vẫn nghĩ rằng chim cánh cụt sống ở Nam Cực và Bắc Cực. Haiz. Vâng hôm nay tôi viết bài này để nhắc nhở bản thân và giúp các bạn đang không biết chim cánh cụt sống ở đâu có câu trả lời thỏa đáng.

Được rồi, vào bài viết! Chim cánh cụt sống ở đâu?

Chim cánh cụt sống ở Nam bán cầu, phổ biến nhất là ở Nam Cực. Chúng không sống hoang dã ở Bắc Cực. Nam Cực được biết đến là nơi lạnh nhất trên hành tinh của chúng ta với nhiệt độ thấp nhất từng được ghi nhận là -89,2 ° C. Nơi đây, với lớp băng dày tới 3,5 km và sức gió cực đại 100 m / s là thách thức không hề nhỏ đối với những sinh vật sống ở đây.

Trong tổng số khoảng 17-19 loài chim cánh cụt được biết đến, chim cánh cụt hoàng đế là loài lớn nhất với chiều cao trung bình 1,1 m và trọng lượng khoảng 35 kg. Chúng đại diện cho loài chim cánh cụt bởi hình dạng cơ thể và là loài duy nhất làm tổ và sinh sản ở Nam Cực trong mùa đông lạnh giá. Tại sao chim cánh cụt không sống ở Bắc Cực?

Có quá nhiều người (và các tài liệu) nói rằng chim cánh cụt sống ở Nam Cực để tránh việc cho gấu trắng (gấu bắc cực) và cáo tuyết ăn. Tuy nhiên, từ một quan điểm logic, tôi không tin rằng những con chim cánh cụt sống ở Bắc Cực và sau đó chạy trốn liên tục đến Nam Cực như vậy. Chưa kể còn rất nhiều khó khăn, nguy hiểm rình rập trên hành trình di cư từ Bắc Cực sang Nam Cực.

Câu trả lời đơn giản nhất, theo tôi, là chọn lọc tự nhiên. Hồ sơ hóa thạch cho thấy chúng được sinh ra ở Nam Cực. Họ an toàn ở đó, có nhiều thức ăn ngon và họ cảm thấy thoải mái trong nhiệt độ băng giá của Nam Cực.

Vì tất cả những lý do này, câu hỏi tốt nhất là, tại sao họ nên rời Nam Cực? Tại sao chim cánh cụt chịu được lạnh?

Im Winter sehe ich viele junge Frauen in Pelzmänteln auf der Straße. Sie sehen so schön, süß und extrem warm aus. Pinguine haben auch einen speziell entwickelten “Pelzmantel”, um warm zu bleiben, den Wind zu blockieren und nach dem Füttern Wasser abzuschütteln. Viele Leute denken, dass Pinguine keine Federn haben, weil sie beim Betrachten sehr glatt und glatt wie Haut sind. Tatsächlich haben Pinguine jedoch die höchste Federdichte (die dichteste), mehr als jeder andere Vogel.

Nhưng đó chưa phải là tất cả. Một thứ cũng cực kỳ quan trọng giúp chúng có thể thoải mái lặn ở làn nước lạnh buốt là lớp mỡ dày do mẹ thiên nhiên ban tặng. Một con chim cánh cụt có 30% trọng lượng cơ thể là mỡ đấy.

À. Còn một lý do nữa, đó là chúng thường tụ tập lại thành một đám đông rất thân thiết. Việc tập trung lại gần với nhau giúp chúng giảm thiểu bề mặt cơ thể tiếp xúc với gió và không khí lạnh. Chúng cũng rất tự giác khi thay phiên nhau đứng ngoài cùng. Tôi yêu sự đoàn kết của chúng!Chim Cánh Cụt thích ăn gì?

Khẩu phần ăn của chim cánh cụt toàn hải sản. Chúng thích ăn các loài nhuyễn thể, cá và mực. Tôi cũng muốn được tham gia bữa tiệc của chúng (tất nhiên là cá phải được nấu chín).

Bạn nhìn thấy chúng lạch bạch, ngu ngơ và khá chậm chạp? Tuy nhiên khi ở dưới nước chim cánh cụt lại hoàn toàn “trở mặt”. Khả năng bơi lội như những vận động viên chuyên nghiệp kết hợp với đôi mắt nhạy bén dưới nước, bộ hàm chắc khỏe và chiếc lưỡi lởm chởm gai tạo thành một sát thủ đích thực. Hơn nữa chúng đôi khi còn biết săn mồi theo nhóm, giúp cho việc kiếm ăn dễ dàng hơn. Đây lại là một phương pháp rất thông minh mà tôi cần phải tôn vinh chúng:))

Một vài hình ảnh đẹp về Chim Cánh Cụt:

Kết Bài

Còn rất nhiều điều lý thú về chim cánh cụt mà tôi chưa thể viết hết trong bài này. Hãy chờ đợi các bài viết tiếp theo của tôi để tìm hiểu thêm về loài gọi là chim mà không biết bay này nhé. Thân chào quý bạn đọc!

Tác giả: Việt Hoàng

Có thể bạn quan tâm:

Tại Sao Kiến Bò Thành Một Hàng?Lượt xem: 7,948Categories Giải ĐápPost navigationNƯỚC NÀO NHỎ NHẤT THẾ GIỚI ? Tại Sao Lại Gọi Là Biển Đen?

Taxonomic rank

From Wikipedia, the free encyclopediaJump to navigation Jump to searchThe major ranks: domain, kingdom, phylum, class, order, family, genus, and species, applied to the red fox, Vulpes vulpes.

The hierarchy of biological classification’s eight major taxonomic ranks. Intermediate minor rankings are not shown.

In biological classification, taxonomic rank is the relative level of a group of organisms (a taxon) in a taxonomic hierarchy. Examples of taxonomic ranks are species, genus, family, order, class, phylum, kingdom, domain, etc.

A given rank subsumes under it less general categories, that is, more specific descriptions of life forms. Above it, each rank is classified within more general categories of organisms and groups of organisms related to each other through inheritance of traits or features from common ancestors. The rank of any species and the description of its genus is basic; which means that to identify a particular organism, it is usually not necessary to specify ranks other than these first two.[1]

Consider a particular species, the red fox, Vulpes vulpes: the next rank above, the genus Vulpes, comprises all the “true” foxes. Their closest relatives are in the immediately higher rank, the family Canidae, which includes dogs, wolves, jackals, and all foxes; the next higher rank, the order Carnivora, includes caniforms (bears, seals, weasels, skunks, raccoons and all those mentioned above), and feliforms (cats, civets, hyenas, mongooses). Carnivorans are one group of the hairy, warm-blooded, nursing members of the class Mammalia, which are classified among animals with backbones in the phylum Chordata, and with them among all animals in the kingdom Animalia. Finally, at the highest rank all of these are grouped together with all other organisms possessing cell nuclei in the domain Eukarya.

The International Code of Zoological Nomenclature defines rank as: “The level, for nomenclatural purposes, of a taxon in a taxonomic hierarchy (e.g. all families are for nomenclatural purposes at the same rank, which lies between superfamily and subfamily).”[2]Main ranks[edit]

In his landmark publications, such as the Systema Naturae, Carl Linnaeus used a ranking scale limited to: kingdom, class, order, genus, species, and one rank below species. Today, nomenclature is regulated by the nomenclature codes. There are seven main taxonomic ranks: kingdom, phylum or division, class, order, family, genus, species. In addition, domain (proposed by Carl Woese) is now widely used as a fundamental rank, although it is not mentioned in any of the nomenclature codes, and is a synonym for dominion (lat. dominium), introduced by Moore in 1974.[3][4]

Latin English
regio domain
regnum kingdom
phylum phylum (in zoology) / division (in botany)
classis class
ordo order
familia family
genus genus
species species

A taxon is usually assigned a rank when it is given its formal name. The basic ranks are species and genus. When an organism is given a species name it is assigned to a genus, and the genus name is part of the species name.

The species name is also called a binomial, that is, a two-term name. For example, the zoological name for the human species is Homo sapiens. This is usually italicized in print, or underlined when italics are not available. In this case, Homo is the generic name and it is capitalized; sapiens indicates the species and it is not capitalized.Ranks in zoology[edit]

There are definitions of the following taxonomic ranks in the International Code of Zoological Nomenclature: superfamily, family, subfamily, tribe, subtribe, genus, subgenus, species, subspecies.

The International Code of Zoological Nomenclature divides names into “family-group names”, “genus-group names” and “species-group names”. The Code explicitly mentions the following ranks for these categories:


Superfamily

FamilySubfamilyTribeSubtribe


GenusSubgenus


SpeciesSubspecies


The rules in the Code apply to the ranks of superfamily to subspecies, and only to some extent to those above the rank of superfamily. Among “genus-group names” and “species-group names” no further ranks are officially allowed. Zoologists sometimes use additional terms such as species groupspecies subgroupspecies complex and superspecies for convenience as extra, but unofficial, ranks between the subgenus and species levels in taxa with many species, e.g. the genus Drosophila. (Note the potentially confusing use of “species group” as both a category of ranks as well as an unofficial rank itself.[citation needed])

At higher ranks (family and above) a lower level may be denoted by adding the prefix “infra“, meaning lower, to the rank. For example, infraorder (below suborder) or infrafamily (below subfamily).

Names of zoological taxa[edit]

  • A taxon above the rank of species has a scientific name in one part (a uninominal name).
  • A species has a name composed of two parts (a binomial name or binomen): generic name + specific name; for example Canis lupus.
  • A subspecies has a name composed of three parts (a trinomial name or trinomen): generic name + specific name + subspecific name; for example Canis lupus italicus. As there is only one possible rank below that of species, no connecting term to indicate rank is needed or used.

Ranks in botany[edit]

According to Art 3.1 of the International Code of Nomenclature for algae, fungi, and plants (ICN) the most important ranks of taxa are: kingdom, division or phylum, class, order, family, genus, and species. According to Art 4.1 the secondary ranks of taxa are tribe, section, series, variety and form. There is an indeterminate number of ranks. The ICN explicitly mentions:[5]


primary rankssecondary ranksfurther ranks


kingdom (regnum)subregnum

division or phylum (divisiophylum)subdivisio or subphylum

class (classis)subclassis

order (ordo)subordo


family (familia)subfamiliatribe ( tribus)subtribus

genus (genus)subgenussection ( sectio)subsectionseries ( series)subseries

species (species)subspeciesvariety ( varietas)subvarietasform ( forma)subforma


There are definitions of the following taxonomic categories in the International Code of Nomenclature for Cultivated Plants: cultivar group, cultivar, grex.

The rules in the ICN apply primarily to the ranks of family and below, and only to some extent to those above the rank of family. Also see descriptive botanical name.

Names of botanical taxa[edit]

Taxa at the rank of genus and above have a botanical name in one part (unitary name); those at the rank of species and above (but below genus) have a botanical name in two parts (binary name); all taxa below the rank of species have a botanical name in three parts (an infraspecific name). To indicate the rank of the infraspecific name, a “connecting term” is needed. Thus Poa secunda subsp. juncifolia, where “subsp.” is an abbreviation for “subspecies”, is the name of a subspecies of Poa secunda.[6]

Hybrids can be specified either by a “hybrid formula” that specifies the parentage, or may be given a name. For hybrids receiving a hybrid name, the same ranks apply, prefixed with notho (Greek: ‘bastard’), with nothogenus as the highest permitted rank.[7]

Outdated names for botanical ranks[edit]

If a different term for the rank was used in an old publication, but the intention is clear, botanical nomenclature specifies certain substitutions:[citation needed]

  • If names were “intended as names of orders, but published with their rank denoted by a term such as”: “cohors” [Latin for “cohort”;[8] see also cohort study for the use of the term in ecology], “nixus”, “alliance”, or “Reihe” instead of “order” (Article 17.2), they are treated as names of orders.
  • “Family” is substituted for “order” (ordo) or “natural order” (ordo naturalis) under certain conditions where the modern meaning of “order” was not intended. (Article 18.2)
  • “Subfamily is substituted for “suborder” (subordo) under certain conditions where the modern meaning of “suborder” was not intended. (Article 19.2)
  • In a publication prior to 1 January 1890, if only one infraspecific rank is used, it is considered to be that of variety. (Article 37.4) This commonly applies to publications that labelled infraspecific taxa with Greek letters, α, β, γ, …

Examples[edit]

Classifications of five species follow: the fruit fly familiar in genetics laboratories (Drosophila melanogaster), humans (Homo sapiens), the peas used by Gregor Mendel in his discovery of genetics (Pisum sativum), the “fly agaric” mushroom Amanita muscaria, and the bacterium Escherichia coli. The eight major ranks are given in bold; a selection of minor ranks are given as well.

Rank Fruit fly Human Pea Fly agaric E. coli
Domain Eukarya Eukarya Eukarya Eukarya Bacteria
Kingdom Animalia Animalia Plantae Fungi
Phylum or division Arthropoda Chordata Magnoliophyta (Tracheophyta) Basidiomycota Proteobacteria
Subphylum or subdivision Hexapoda Vertebrata Magnoliophytina (Euphyllophytina) Agaricomycotina
Class Insecta Mammalia Magnoliopsida (Equisetopsida) Agaricomycetes Gammaproteobacteria
Subclass Pterygota Theria Rosidae (Magnoliidae) Agaricomycetidae
Superorder Panorpida Euarchontoglires Rosanae
Order Diptera Primates Fabales Agaricales Enterobacterales
Suborder Brachycera Haplorrhini Fabineae Agaricineae
Family Drosophilidae Hominidae Fabaceae Amanitaceae Enterobacteriaceae
Subfamily Drosophilinae Homininae Faboideae Amanitoideae
Tribe Hominini
Genus Drosophila Homo Pisum Amanita Escherichia
Species D. melanogaster H. sapiens P. sativum A. muscaria E. coli

Table notes

  • In order to keep the table compact and avoid disputed technicalities, some common and uncommon intermediate ranks are omitted. For example, the mammals of Europe, Africa, and upper North America[a] are in class Mammalia, legion Cladotheria, sublegion Zatheria, infralegion Tribosphenida, subclass Theria, clade Eutheria, clade Placentalia – but only Mammalia and Theria are in the table. Legitimate arguments might arise if the commonly used clades Eutheria and Placentalia were both included, over which is the rank “infraclass” and what the other’s rank should be, or whether the two names are synonyms.
  • The ranks of higher taxa, especially intermediate ranks, are prone to revision as new information about relationships is discovered. For example, the flowering plants have been downgraded from a division (Magnoliophyta) to a subclass (Magnoliidae), and the superorder has become the rank that distinguishes the major groups of flowering plants.[9] The traditional classification of primates (class Mammalia, subclass Theria, infraclass Eutheria, order Primates) has been modified by new classifications such as McKenna and Bell (class Mammalia, subclass Theriformes, infraclass Holotheria) with Theria and Eutheria assigned lower ranks between infraclass and the order Primates. See mammal classification for a discussion. These differences arise because there are few available ranks and many branching points in the fossil record.
  • Within species further units may be recognised. Animals may be classified into subspecies (for example, Homo sapiens sapiens, modern humans) or morphs (for example Corvus corax varius morpha leucophaeus, the pied raven). Plants may be classified into subspecies (for example, Pisum sativum subsp. sativum, the garden pea) or varieties (for example, Pisum sativum var. macrocarpon, snow pea), with cultivated plants getting a cultivar name (for example, Pisum sativum var. macrocarpon ‘Snowbird’). Bacteria may be classified by strains (for example Escherichia coli O157:H7, a strain that can cause food poisoning).
Xem:  Tà năng phan dũng ở đâu ???

Terminations of names[edit]

Taxa above the genus level are often given names based on the type genus, with a standard termination. The terminations used in forming these names depend on the kingdom (and sometimes the phylum and class) as set out in the table below.

Pronunciations given are the most Anglicized. More Latinate pronunciations are also common, particularly /ɑː/ rather than /eɪ/ for stressed a.

Rank Bacteria[10] Plants Algae Fungi Animals Viruses[11]
Division/phylum -ophyta[12] /ˈɒfətə, ə(ˈ)faɪtə/ -mycota /maɪˈkoʊtə/ -viricota /vɪrəˈkoʊtə/
Subdivision/subphylum -phytina[12] /fəˈtaɪnə/ -mycotina /maɪkəˈtaɪnə/ -viricotina /vɪrəkəˈtaɪnə/
Class -ia /iə/ -opsida /ˈɒpsədə/ -phyceae /ˈfaɪʃiː/ -mycetes /maɪˈsiːtiːz/ -viricetes /vɪrəˈsiːtiːz/
Subclass -idae /ədiː/ -phycidae /ˈfɪsədiː/ -mycetidae /maɪˈsɛtədiː/ -viricetidae /vɪrəˈsɛtədiː/
Superorder -anae /ˈeɪniː/
Order -ales /ˈeɪliːz/ -ida /ədə/ or -iformes /ə(ˈ)fɔːrmiːz/ -virales /vaɪˈreɪliːz/
Suborder -ineae /ˈɪniːiː/ -virineae /vəˈrɪniːiː/
Infraorder -aria /ˈɛəriə/
Superfamily -acea /ˈeɪʃə/ -oidea /ˈɔɪdiːə/
Epifamily -oidae /ˈɔɪdiː/
Family -aceae /ˈeɪʃiː/ -idae /ədiː/ -viridae /ˈvɪrədiː/
Subfamily -oideae /ˈɔɪdiːiː/ -inae /ˈaɪniː/ -virineae /vɪˈrɪniːiː/
Infrafamily -odd /ɒd/[13]
Tribe -eae /iːiː/ -ini /ˈaɪnaɪ/
Subtribe -inae /ˈaɪniː/ -ina /ˈaɪnə/
Infratribe -ad /æd/ or -iti /ˈaɪti/

Table notes

  • In botany and mycology names at the rank of family and below are based on the name of a genus, sometimes called the type genus of that taxon, with a standard ending. For example, the rose family, Rosaceae, is named after the genus Rosa, with the standard ending “-aceae” for a family. Names above the rank of family are also formed from a generic name, or are descriptive (like Gymnospermae or Fungi).
  • For animals, there are standard suffixes for taxa only up to the rank of superfamily.[14] Uniform suffix has been suggested (but not recommended) in AAAS[15] as -ida /ɪdə/ for orders, for example; protozoologists seem to adopt this system. Many metazoan (higher animals) orders also have such suffix, e.g. Hyolithida and Nectaspida (Naraoiida).
  • Forming a name based on a generic name may be not straightforward. For example, the homo has the genitive hominis, thus the genus Homo (human) is in the Hominidae, not “Homidae”.
  • The ranks of epifamily, infrafamily and infratribe (in animals) are used where the complexities of phyletic branching require finer-than-usual distinctions. Although they fall below the rank of superfamily, they are not regulated under the International Code of Zoological Nomenclature and hence do not have formal standard endings. The suffixes listed here are regular, but informal.[16]
  • In virology, the formal endings for taxa of viroids and of satellite nucleic acids are similar to viruses, only -vir- is replaced by -viroid-, -satellit-.[11]

All ranks[edit]

There is an indeterminate number of ranks, as a taxonomist may invent a new rank at will, at any time, if they feel this is necessary. In doing so, there are some restrictions, which will vary with the nomenclature code which applies.

The following is an artificial synthesis, solely for purposes of demonstration of relative rank (but see notes), from most general to most specific:[17]

  • Domain or Empire
    • Subdomain (biology)
  • Realm (in virology)[11]
    • Subrealm (in virology)[11]
  • Hyperkingdom
    • Superkingdom
      • Kingdom
        • Subkingdom
          • Infrakingdom
            • Parvkingdom
  • Superphylum, or superdivision (in botany)
    • Phylum, or division (in botany)
      • Subphylum, or subdivision (in botany)
        • Infraphylum, or infradivision (in botany)
          • Microphylum
  • Superclass
    • Class
      • Subclass
        • Infraclass
          • Subterclass
            • Parvclass
  • Superdivision (in zoology)[18]
    • Division (in zoology)[18]
      • Subdivision (in zoology)[18]
        • Infradivision (in zoology)[18]
  • Superlegion (in zoology)
    • Legion (in zoology)
      • Sublegion (in zoology)
        • Infralegion (in zoology)
  • Supercohort (in zoology)[19]
    • Cohort (in zoology)[19]
      • Subcohort (in zoology)[19]
        • Infracohort (in zoology)[19]
  • Gigaorder (in zoology)[20]
    • Magnorder or megaorder (in zoology)[20]
      • Grandorder or capaxorder (in zoology)[20]
        • Mirorder or hyperorder (in zoology)[20]
          • Superorder
            • Series (for fish)
              • Order
                • Parvorder (position in some zoological classifications)
                  • Nanorder (in zoology)
                    • Hypoorder (in zoology)
                      • Minorder (in zoology)
                        • Suborder
                          • Infraorder
                            • Parvorder (usual position), or microorder (in zoology)[20]
  • Section (in zoology)
    • Subsection (in zoology)
  • Gigafamily (in zoology)
    • Megafamily (in zoology)
      • Grandfamily (in zoology)
        • Hyperfamily (in zoology)
          • Superfamily
            • Epifamily (in zoology)
              • Series (for Lepidoptera)
                • Group (for Lepidoptera)
                  • Family
                    • Subfamily
                      • Infrafamily
  • Supertribe
    • Tribe
      • Subtribe
        • Infratribe
  • Supergenus
    • Genus
      • Subgenus
        • Section (in botany)
          • Subsection (in botany)
            • Series (in botany)
              • Subseries (in botany)
  • Superspecies or Species-group
    • Species
      • Subspecies, or forma specialis (for fungi), or pathovar (for bacteria)[21])
        • Variety or varietas (in botany); or form or morph (in zoology) or aberration (in lepidopterology)
          • Subvariety (in botany)
            • Form or forma (in botany)
              • Subform (in botany)

Significance and problems[edit]

Ranks are assigned based on subjective dissimilarity, and do not fully reflect the gradational nature of variation within nature. In most cases, higher taxonomic groupings arise further back in time: not because the rate of diversification was higher in the past, but because each subsequent diversification event results in an increase of diversity and thus increases the taxonomic rank assigned by present-day taxonomists.[22] Furthermore, some groups have many described species not because they are more diverse than other species, but because they are more easily sampled and studied than other groups.[citation needed]

Of these many ranks, the most basic is species. However, this is not to say that a taxon at any other rank may not be sharply defined, or that any species is guaranteed to be sharply defined. It varies from case to case. Ideally, a taxon is intended to represent a clade, that is, the phylogeny of the organisms under discussion, but this is not a requirement.[citation needed]

A classification in which all taxa have formal ranks cannot adequately reflect knowledge about phylogeny. Since taxon names are dependent on ranks in traditional Linnaean systems of classification, taxa without ranks cannot be given names. Alternative approaches, such as using circumscriptional names, avoid this problem.[23][24] The theoretical difficulty with superimposing taxonomic ranks over evolutionary trees is manifested as the boundary paradox which may be illustrated by Darwinian evolutionary models.

There are no rules for how many species should make a genus, a family, or any other higher taxon (that is, a taxon in a category above the species level).[25][26] It should be a natural group (that is, non-artificial, non-polyphyletic), as judged by a biologist, using all the information available to them. Equally ranked higher taxa in different phyla are not necessarily equivalent (e.g., it is incorrect to assume that families of insects are in some way evolutionarily comparable to families of mollusks).[26] For animals, at least the phylum rank is usually associated with a certain body plan, which is also, however, an arbitrary criterion.[citation needed]Mnemonic[edit]

There are several acronyms intended to help memorise the taxonomic hierarchy, such as “King Phillip came over for great spaghetti”. See taxonomy mnemonic.See also[edit]

  • Breed
  • Catalogue of Life (a database)
  • Cladistics
  • Landrace
  • Tree of life (biology)

Footnotes[edit]

  1. ^ The Virginia opossum is an exception.

References[edit]

  1. ^ “International Code of Nomenclature for algae, fungi, and plants – Melbourne Code”. IAPT-Taxon.org. 2012. Articles 2 and 3.
  2. ^ International Commission on Zoological Nomenclature (1999), International Code of Zoological Nomenclature. Fourth Edition, International Trust for Zoological Nomenclature
  3. ^ Moore, R. T. (1974). “Proposal for the recognition of super ranks”(PDF). Taxon23 (4): 650–652. doi:10.2307/1218807. JSTOR 1218807.
  4. ^ Luketa, S. (2012). “New views on the megaclassification of life”(PDF). Protistology7 (4): 218–237.
  5. ^ “International Code of Nomenclature for algae, fungi, and plants – Melbourne Code”. IAPT-Taxon.org. 2012. Articles 3 and 4.
  6. ^ “International Code of Nomenclature for algae, fungi, and plants – Melbourne Code”. IAPT-Taxon.org. 2012. Articles 4.2 and 24.1.
  7. ^ “International Code of Nomenclature for algae, fungi, and plants – Melbourne Code”. IAPT-Taxon.org. 2012. Article 3.2, and Appendix 1, Articles H.1–3.
  8. ^ Stearn, W.T. 1992. Botanical Latin: History, grammar, syntax, terminology and vocabulary, Fourth edition. David and Charles.
  9. ^ Chase, M.W.; Reveal, J.L. (2009), “A phylogenetic classification of the land plants to accompany APG III”, Botanical Journal of the Linnean Society161 (2): 122–127, doi:10.1111/j.1095-8339.2009.01002.x
  10. ^ Euzéby, J. P. (1997). “List of Bacterial Names with Standing in Nomenclature: a folder available on the Internet (13 Dec. 2007 version)”. International Journal of Systematic and Evolutionary Microbiology47 (2): 590–592. doi:10.1099/00207713-47-2-590. PMID 9103655.
  11. ^ Jump up to: a b c d “ICTV Code. Section 3.IV, § 3.23; section 3.V, §§ 3.27-3.28.” International Committee on Taxonomy of Viruses. October 2018. Retrieved 28 November 2018.
  12. ^ Jump up to: a b “International Code of Nomenclature for algae, fungi, and plants (Shenzhen Code)”. IAPT-Taxon.org. 2018. Article 16.
  13. ^ For example, the chelonian infrafamilies Chelodd (Gaffney & Meylan 1988: 169) and Baenodd (ibid., 176).
  14. ^ ICZN article 29.2
  15. ^ Pearse, A.S. (1936) Zoological names. A list of phyla, classes, and orders, prepared for section F, American Association for the Advancement of Science. American Association for the Advancement of Science, p. 4
  16. ^ As supplied by Gaffney & Meylan (1988).
  17. ^ For the general usage and coordination of zoological ranks between the phylum and family levels, including many intercalary ranks, see Carroll (1988). For additional intercalary ranks in zoology, see especially Gaffney & Meylan (1988); McKenna & Bell (1997); Milner (1988); Novacek (1986, cit. in Carroll 1988: 499, 629); and Paul Sereno’s 1986 classification of ornithischian dinosaurs as reported in Lambert (1990: 149, 159). For botanical ranks, including many intercalary ranks, see Willis & McElwain (2002).
  18. ^ Jump up to: a b c d These are movable ranks, most often inserted between the class and the legion or cohort. Nevertheless, their positioning in the zoological hierarchy may be subject to wide variation. For examples, see the Benton classification of vertebrates (2005).
  19. ^ Jump up to: a b c d In zoological classification, the cohort and its associated group of ranks are inserted between the class group and the ordinal group. The cohort has also been used between infraorder and family in saurischian dinosaurs (Benton 2005). In botanical classification, the cohort group has sometimes been inserted between the division (phylum) group and the class group: see Willis & McElwain (2002: 100–101), or has sometimes been used at the rank of order, and is now considered to be an obsolete name for order: See International Code of Nomenclature for algae, fungi, and plants, Melbourne Code 2012, Article 17.2.
  20. ^ Jump up to: a b c d e The supra-ordinal sequence gigaorder–megaorder–capaxorder–hyperorder (and the microorder, in roughly the position most often assigned to the parvorder) has been employed in turtles at least (Gaffney & Meylan 1988), while the parallel sequence magnorder–grandorder–mirorder figures in recently influential classifications of mammals. It is unclear from the sources how these two sequences are to be coordinated (or interwoven) within a unitary zoological hierarchy of ranks. Previously, Novacek (1986) and McKenna-Bell (1997) had inserted mirorders and grandorders between the order and superorder, but Benton (2005) now positions both of these ranks above the superorder.
  21. ^ Additionally, the terms biovar, morphovar, phagovar, and serovardesignate bacterial strains (genetic variants) that are physiologically or biochemically distinctive. These are not taxonomic ranks, but are groupings of various sorts which may define a bacterial subspecies.
  22. ^ Gingerich, P. D. (1987). “Evolution and the fossil record: patterns, rates, and processes”. Canadian Journal of Zoology65 (5): 1053–1060. doi:10.1139/z87-169.
  23. ^ Kluge, N.J. (1999). “A system of alternative nomenclatures of supra-species taxa. Linnaean and post-Linnaean principles of systematics”. Entomological Review79 (2): 133–147.
  24. ^ Kluge, N.J. (2010). “Circumscriptional names of higher taxa in Hexapoda”. Bionomina1 (1): 15–55. doi:10.11646/bionomina.1.1.3.
  25. ^ Stuessy, T.F. (2009). Plant Taxonomy: The Systematic Evaluation of Comparative Data. 2nd ed. Columbia University Press, p. 175.
  26. ^ Jump up to: a b Brusca, R.C. & Brusca, G.J. (2003). Invertebrates. 2nd ed. Sunderland, Massachusetts: Sinauer Associates, pp. 26–27.

Bibliography[edit]

  • Croizat, Leon (January 1945). “History and Nomenclature of the Higher Units of Classification”. Bulletin of the Torrey Botanical Club72 (1): 52–75. doi:10.2307/2481265. JSTOR 2481265.
  • Benton, Michael J. 2005. Vertebrate Palaeontology, 3rd ed. Oxford: Blackwell Publishing. ISBN 0-632-05637-1. ISBN 978-0-632-05637-8
  • Brummitt, R.K., and C.E. Powell. 1992. Authors of Plant Names. Royal Botanic Gardens, Kew. ISBN 0-947643-44-3
  • Carroll, Robert L. 1988. Vertebrate Paleontology and Evolution. New York: W.H. Freeman & Co. ISBN 0-7167-1822-7
  • Gaffney, Eugene S., and Peter A. Meylan. 1988. “A phylogeny of turtles”. In M.J. Benton (ed.), The Phylogeny and Classification of the Tetrapods, Volume 1: Amphibians, Reptiles, Birds, 157–219. Oxford: Clarendon Press.
  • Haris Abba Kabara. 2001. Karmos hand book for botanical names.
  • Lambert, David. 1990. Dinosaur Data Book. Oxford: Facts on File & British Museum (Natural History). ISBN 0-8160-2431-6
  • McKenna, Malcolm C., and Susan K. Bell (editors). 1997. Classification of Mammals Above the Species Level. New York: Columbia University Press. ISBN 0-231-11013-8
  • Milner, Andrew. 1988. “The relationships and origin of living amphibians”. In M.J. Benton (ed.), The Phylogeny and Classification of the Tetrapods, Volume 1: Amphibians, Reptiles, Birds, 59–102. Oxford: Clarendon Press.
  • Novacek, Michael J. 1986. “The skull of leptictid insectivorans and the higher-level classification of eutherian mammals”. Bulletin of the American Museum of Natural History 183: 1–112.
  • Sereno, Paul C. 1986. “Phylogeny of the bird-hipped dinosaurs (Order Ornithischia)”. National Geographic Research 2: 234–56.
  • Willis, K.J., and J.C. McElwain. 2002. The Evolution of Plants. Oxford University Press. ISBN 0-19-850065-3
Xem:  Công chứng giấy tờ ở đâu ???
hidevteTaxonomic ranks
Realm ( vir.)Subrealm ( vir.)Domain/SuperkingdomKingdomSubkingdomInfrakingdom/BranchSuperphylum/SuperdivisionPhylum/DivisionSubphylumInfraphylumMicrophylumSuperclassClassSubclassInfraclassSubterclassParvclassLegionCohortMagnorderSuperorderOrderSuborderInfraorderParvorderSection ( zoo.)SuperfamilyFamilySubfamilyInfrafamilySupertribeTribeSubtribeInfratribeGenusSubgenusSection ( bot.)Series ( bot.)SuperspeciesSpeciesSubspeciesVariety ( bot.)Form ( bot.)

Categories:

  • Botanical nomenclature
  • Plant taxonomy
  • Zoological nomenclature
  • Biology terminology

Hidden categories:

  • Articles with short description
  • Short description matches Wikidata
  • Use dmy dates from September 2020
  • All articles with unsourced statements
  • Articles with unsourced statements from March 2018
  • Articles with unsourced statements from October 2017
  • Articles containing Latin-language text
  • Articles with unsourced statements from April 2017
  • Articles with unsourced statements from August 2011
  • Articles with unsourced statements from August 2016

Chim cánh cụt

Bách khoa toàn thư mở WikipediaBước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Chim cánh cụt hay còn gọi là chim cụt cánh (bộ Sphenisciformes, họ Spheniscidae – lấy theo chi Spheniscus nghĩa là hình nêm) là một nhóm chim nước không bay được. Chúng hầu như chỉ sống ở Nam bán cầu, với duy nhất một loài, chim cánh cụt Galápagos, được tìm thấy ở phía bắc đường xích đạo. Vốn rất thích nghi cho cuộc sống trong nước, chim cánh cụt có bộ lông tương phản nhau gồm các mảng sáng và tối và chân chèo để bơi lội. Hầu hết chim cánh cụt ăn nhuyễn thể, cá, mực và các dạng sinh vật biển khác mà chúng bắt được khi bơi dưới nước. Chúng dành khoảng một nửa cuộc đời trên cạn và nửa còn lại ở biển.

Mặc dù hầu hết tất cả các loài chim cánh cụt đều có nguồn gốc từ Nam bán cầu, chúng không chỉ được tìm thấy ở những vùng khí hậu lạnh, chẳng hạn như Nam Cực. Trên thực tế, chỉ có một số loài chim cánh cụt sống ở xa về phía nam. Một số loài được tìm thấy ở vùng ôn đới, nhưng một loài, chim cánh cụt Galápagos, sống gần đường xích đạo.

Loài chim cánh cụt sống lớn nhất là chim cánh cụt hoàng đế ( Aptenodytes forsteri ):[1] trung bình, con trưởng thành khoảng 1,1 m (3 ft 7 in) cao và nặng 35 kg (77 lb) . Loài chim cánh cụt nhỏ nhất là chim cánh cụt xanh nhỏ ( Eudyptula nhỏ ), còn được gọi là chim cánh cụt cổ tích, đứng khoảng 33 cm (13 in) cao và nặng 1 kg (2,2 lb) .[2] Trong số các loài chim cánh cụt còn tồn tại, những con chim cánh cụt lớn hơn sống ở những vùng lạnh hơn, trong khi những con chim cánh cụt nhỏ hơn thường được tìm thấy ở các vùng khí hậu ôn đới hoặc thậm chí nhiệt đới. Một số loài từ thời tiền sử đạt được kích thước khổng lồ, trở nên cao hoặc nặng bằng người trưởng thành. Chúng không bị giới hạn ở các vùng Nam Cực; ngược lại, các khu vực cận Nam Cực chứa đựng sự đa dạng cao, và ít nhất một con chim cánh cụt khổng lồ đã xuất hiện trong khu vực khoảng 2.000 km về phía nam của xích đạo 35 mya, trong một vùng khí hậu chắc chắn là ấm hơn ngày nay.Các loài và nơi sống[sửa | sửa mã nguồn]

Số lượng loài còn lại đến nay vẫn là một chủ đề gây tranh cãi. Trong các loại văn bản khác nhau người ta liệt kê từ 16 đến 19 loài. Một số tác giả còn cho rằng chim cánh cụt chân chèo trắng là một loài chim lặn nhỏ (Eudyptula) riêng, mặc dù ngày nay nói chung nó được coi là phân loài của chim cánh cụt nhỏ (chẳng hạn Williams, 1995; Davis & Renner, 2003). Tương tự, người ta vẫn chưa rõ chim cánh cụt hoàng gia chỉ đơn thuần là dạng biến đổi màu sắc của chim cánh cụt Macaroni hay không. Ngoài ra, cũng khá thích hợp để coi như một loài riêng là quần thể miền bắc của chim cánh cụt Rockhopper (Davis & Renner, 2003). Mặc dù tất cả các loài chim cánh cụt hiện còn đều có nguồn gốc ở nam bán cầu, nhưng ngược lại với niềm tin phổ biến, chúng không chỉ tìm thấy tại các khu vực có khí hậu lạnh, chẳng hạn châu Nam Cực. Trên thực tế, chỉ có vài loài chim cánh cụt thực sự sinh sống xa đến vậy về phía nam. Có ba loài sinh sống ở khu vực nhiệt đới; một loài sinh sống xa về phía bắc tới quần đảo Galápagos (chim cánh cụt Galápagos) và thỉnh thoảng chúng còn vượt qua cả đường xích đạo trong khi kiếm ăn.

Loài lớn nhất là chim cánh cụt hoàng đế (Aptenodytes forsteri): chim trưởng thành trung bình cao khoảng 1,1 m (3 ft 7 in) và cân nặng 35 kg (75 lb) hoặc hơn thế. Loài chim cánh cụt nhỏ nhất là chim cánh cụt nhỏ (còn gọi là chim cánh cụt tiên), chúng chỉ cao khoảng 40 cm (16 in) và cân nặng 1 kg (2,2 lb). Nói chung loài chim cánh cụt nào có kích thước lớn hơn thì cũng có khả năng giữ nhiệt tốt hơn, và vì thế sinh sống trong khu vực lạnh hơn, trong khi các loài chim cánh cụt nhỏ chủ yếu tìm thấy trong khu vực có khí hậu ôn đới hay thậm chí là nhiệt đới.

Phần lớn chim cánh cụt ăn các loại nhuyễn thể, cá, mực và các dạng sinh vật biển khác chúng bắt được trong khi bơi lội dưới nước. Chúng tiêu tốn khoảng một nửa thời gian trên cạn và nửa còn lại dưới lòng các đại dương.

Một trong những dạng hành vi gây trở ngại nhất của chim cánh cụt diễn ra khi chim mẹ mất con của nó, hoặc là do chúng không chịu đựng được cơn bão đầu tiên trong đời, hoặc là do các lý do khác như kẻ thù. Khi chim mẹ mất con, nó có ý đồ ăn trộm con của chim mẹ khác- có lẽ là để giảm sự thương tiếc con. Hành vi này làm các nhà khoa học kinh ngạc, do nó là một hành động bột phát về tình cảm ngược lại với hành vi bản năng; là điều mà nhiều động vật hoang dã không bao giờ có khi chúng mất con. Nhiều người đã sử dụng điều này như là chứng cứ cơ bản trong nhiều thập kỷ để cho rằng nhiều động vật có tình cảm tương tự như con người, thông thường là dành cho mục đích về các quyền của động vật. Một cách tự nhiên, những con chim mái khác trong nhóm không thích hành vi này và sẽ giúp đỡ con chim mẹ thực thụ bảo vệ các con của nó. Tuy nhiên, hành vi này có thể được giải thích một cách tốt hơn như là phương tiện cho chim mái, hoặc chim trống, có thể nhớ được sự hợp tác toàn diện của các chim bố mẹ khác trong việc nuôi nấng chim con, nếu cho rằng mối quan hệ là một vợ-một chồng; có lẽ ở đây có sự khác biệt giữa chim trống và chim mái liên quan tới việc ăn trộm chim non

và giữa các loài trong sự liên hệ với đặc tính một vợ-một chồng là theo mùa hay vĩnh cửu.

Chim cánh cụt dường như không e ngại con người và các nhóm nhà thám hiểm có thể đến gần chúng mà không làm cho chúng sợ.Tiến hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử tiến hóa của chim cánh cụt được tìm hiểu không kỹ, do các hóa thạch chim cánh cụt là khá hiếm. Hóa thạch chim cánh cụt cổ nhất được biết là của chi Waimanu, chúng đã sống trong giai đoạn đầu của thế Paleocen tại khu vực New Zealand, khoảng 62 triệu năm trước. Trong khi chúng chưa thích nghi tốt với cuộc sống dưới nước như chim cánh cụt ngày nay (điều đó có lẽ diễn ra vào thời kỳ thế Eocen khoảng 40 triệu năm trước), thì Waimanu đã không bay được và tương tự như chim lặn gavia, với các cánh ngắn thích nghi cho việc lặn sâu.Các hóa thạch này cho thấy chim cánh cụt tiền sử đã không bay được và có thể sống dưới nước được và nguồn gốc của chúng có lẽ đã bắt đầu khoảng 65 triệu năm trước, trước khi diễn ra sự tuyệt chủng của khủng long. Tổ tiên của chim cánh cụt trước Waimanu hiện vẫn không rõ, mặc dù một số nhà khoa học (Mayr, 2005) cho rằng họ Plotopteridae tương tự như chim cánh cụt (thông thường được coi là có họ với chim cổ rắn và chim cốc) có thể trên thực tế là nhóm chị em ban đầu của chim cánh cụt, và chim cánh cụt có thể có sự chia sẻ chung cùng một tổ tiên với bộ Bồ nông (Pelecaniformes).

Palaeeudyptinae[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyền thống, phần lớn các loài chim cánh cụt đã tuyệt chủng được đặt trong một phân họ có lẽ là cận ngành gọi là Palaeeudyptinae. Để có danh sách đầy đủ các chi này, xem phần Phân loại dưới đây.

Tình trạng số lượng chim cánh cụt ngày nay là rất ổn định, chúng sống rất đông đúc thành từng bầy.Vì vậy chưa có nguy cơ bị tuyệt chủng đối loài chim này[cần dẫn nguồn].Đặc điểm cơ thể[sửa | sửa mã nguồn]

Chim cánh cụt thích nghi tốt với cuộc sống dưới nước. Các cánh của chúng đã tiến hóa thành các chân chèo và không có tác dụng để bay trong không gian. Tuy nhiên, trong nước thì chim cánh cụt lại nhanh nhẹn một cách đáng ngạc nhiên. Với bộ lông mượt thì một lớp không khí được duy trì, đảm bảo cho sức nổi của chúng. Ngoài ra, lớp không khí này còn có tác dụng giúp cho chim cánh cụt chịu được nước lạnh. Trên mặt đất, chim cánh cụt dùng đuôi và các cánh để duy trì cân bằng cho thế đứng thẳng của chúng.

Tất cả các loài chim cánh cụt đều có màu trắng ở phần bụng và màu sẫm (chủ yếu là đen) ở phần lưng. Nó có tác dụng giúp cho chúng được ngụy trang tốt. Kẻ thù săn tìm chúng từ phía dưới (chẳng hạn cá kình hay hải cẩu báo) rất khó phân biệt màu trắng của bụng chim cánh cụt với màu phản chiếu từ mặt nước. Bộ lông sẫm màu trên lưng chúng giúp chúng thoát khỏi các kẻ thù từ phía trên.Tux – con vật lấy khước của Linux.

Chim cánh cụt có thể bơi lặn trong nước với vận tốc từ 6 tới 12 km/h, mặc dù có một số báo cáo cho rằng tốc độ có thể lên tới 27 km/h (điều này có thể xảy ra khi chúng bị giật mình hay bị tấn công). Các loài chim cánh cụt nhỏ không lặn sâu và chỉ săn tìm mồi gần mặt nước và chỉ lặn khoảng 1-2 phút. Các loài chim cánh cụt lớn có thể lặn sâu khi cần thiết. Kỷ lục lặn sâu của chim cánh cụt hoàng đế lớn đã được ghi nhận là tới độ sâu 565 m (1.870 ft) và kéo dài tới 20 phút.

Chim cánh cụt có thể đi lạch bạch bằng hai chân hoặc trượt bằng bụng của chúng dọc theo lớp tuyết, một chuyển động gọi là “trượt băng”, điều này cho phép chúng tiết kiệm năng lượng trong khi vẫn có thể chuyển động tương đối nhanh.

Chim cánh cụt có thính giác tốt. Các mắt của chúng đã thích nghi với việc quan sát dưới nước và là phương tiện chủ yếu của chúng để định vị con mồi và lẩn tránh kẻ thù. Ngược lại, ở trên cạn thì chúng là cận thị. Khả năng khứu giác của chúng vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ.

Chúng có thể uống nước mặn một cách an toàn do tuyến lệ của chúng lọc lượng muối dư thừa từ máu [1] Lưu trữ 2006-07-20 tại Wayback Machine [2] Lưu trữ 2006-09-28 tại Wayback Machine [3] Lưu trữ 2006-10-12 tại Wayback Machine. Muối được tiết ra ngoài trong dạng chất lỏng đậm đặc từ hốc mũi.

Chim cánh cụt không có cơ quan sinh dục ngoài [4] Lưu trữ 2007-10-17 tại Wayback Machine. Kết quả là chỉ có thử nghiệm nhiễm sắc thể mới xác định được giới tính của chúng.Sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]

Một số loài chim cánh cụt có thể giao phối cả đời, trong khi các loài khác chỉ giao phối một mùa. Nói chung, chúng tạo ra một bầy con nhỏ và cả chim bố lẫn chim mẹ cùng chăm sóc con non.

Xem:  Phan mạnh quỳnh quê ở đâu ???

Ở một số loài con cái đẻ ít trứng (10-20: 10 trứng), ấp 65 ngày. Sau mỗi lần ấp, con cái giảm 40-50% khối lượng. Sau khi trứng nở, con mẹ tiếp tục ủ ấm cho con non.

Hành vi quan hệ trống mái[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu tháng 2 năm 2004 tờ New York Times thông báo rằng một cặp chim cánh cụt quai mũ trống tại Vườn bách thú Công viên Trung tâm (Central Park Zoo) tại thành phố New York đã kết đôi và thậm chí chúng đã ấp thành công từ trứng ra một con chim mái non. Các chim cánh cụt khác ở New York cũng đã được thông báo là tạo ra các cặp đồng tính.

Các vườn thú tại Nhật Bản và Đức cũng dẫn chứng các cặp chim cánh cụt đực. Các cặp chim đực này đã xây tổ cùng nhau và dùng các hòn đá thay trứng trong tổ của chúng. Nghiên cứu tại Đại học Rikkyo, Tokyo đã tìm thấy 20 cặp như thế tại 16 vườn nuôi thú và bể nuôi tại Nhật Bản. Vườn thú Bremerhaven tại Đức đã cố tách các cặp chim cánh cụt đực bằng cách nhập khẩu các chim cánh cụt mái từ Thụy Điển và tách các cặp đực ra nhưng họ đã không thành công. Giám đốc vườn thú nói rằng các mối quan hệ “uyên ương” này là quá mạnh.Thư viện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

  • chim cánh cụt Adelie tại châu Nam Cực
  • chim cánh cụt quai mũ đang tìm kiếm nhuyễn thể
  • chim cánh cụt Magellan
  • chim cánh cụt Gentoo
  • chim cánh cụt hoàng đế

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ Sphenisciformes

  • Họ Spheniscidae
    • Waimanu

Phim ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phim truyền hình hoạt hình Pingu (Thụy Sĩ-Anh) (1986, 1900-2006)
  • Phim truyền hình hoạt hình Stanley (tập Penguin Party) (Mỹ) (2001)
  • Phim truyền hình hoạt hình Pecola (Nhật-Canda) (2001-2002)
  • Phim truyền hình hoạt hình Pororo The Little Penguin (Hàn Quốc) (2003 – 2021)
  • Phim điện ảnh hoạt hình Madagascar (Mỹ) (2005)
  • Phim truyền hình hoạt hình Little Einsteins (mùa 1) (tập The Birthday Balloons) (Mỹ) (2005)
  • Phim điện ảnh hoạt hình Happy Feet (Mỹ-Anh-Úc) (2006)
  • Phim truyền hình hoạt hình Higglytown Heroes (tập Look’s Who Squawking) (Mỹ) (2006)
  • Phim truyền hình múa rối Sesame street (mùa 37): Elmo’s World (tập Penguins) (Mỹ) (2006)
  • Phim điện ảnh hoạt hình Surf’s Up (Mỹ) (2007)
  • Phim điện ảnh hoạt hình Madagascar: Escape 2 Africa (Mỹ) (2008)
  • Phim truyền hình hoạt hình Little Einsteins (mùa 2) (tập Mr. Penguin’s Ice Cream Adventure) (Mỹ) (2008)
  • Phim truyền hình hoạt hình Penguins Of Madagascar (Anh) (2008 – 2015)
  • Phim điện ảnh hoạt hình Happy Feet Two (Mỹ-Úc) (2011)
  • Phim điện ảnh hoạt hình Madagascar 3: Europe’s Most Wanted (Mỹ) (2012)
  • Phim điện ảnh hoạt hình Madly Madagascar (Mỹ) (2013)
  • Phim điện ảnh hoạt hình Penguins Of Madagascar (Mỹ) (2014)
  • Phim điện ảnh hoạt hình Surf’s Up 2: WaveMania (Mỹ-Canada) (2017)
  • Phim điện ảnh hoạt hình The Jungle Bunch (Pháp) (2017)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thông tin về chim cánh cụt tại vĩ độ 70 nam[liên kết hỏng]
  • Webcam chim cánh cụt Gentoo từ châu Nam Cực
  • Thông tin về chim cánh cụt tại pinguins.info
  • PBS Nature: Thế giới chim cánh cụt
  • ITIS
  • Thông tin về thế giới biển của chim cánh cụt Lưu trữ 2012-06-21 tại Wayback Machine
  • Weblog chim cánh cụt[liên kết hỏng]
  • Hình ảnh về chim cánh cụt[liên kết hỏng]
  • Website về chim cánh cụt ngớ ngẩn và buồn cười với Webcam trực tiếp![liên kết hỏng]
  • Hình ảnh video về chim cánh cụt[liên kết hỏng] trên Internet Bird Collection
  • Thế giới chim cánh cụt

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ DK (ngày 6 tháng 9 năm 2016). Animal! (bằng tiếng Anh). Penguin. ISBN 9781465459008.
  2. ^ Grabski, Valerie (2009). “Little Penguin – Penguin Project”. Penguin Sentinels/University of Washington. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2011.
  • Mayr, G. (2005). “Tertiary plotopterids (Aves, Plotopteridae) and a novel hypothesis on the phylogenetic relationships of penguins (Spheniscidae)”. Tạp chí Zoological Systematics and Evolutionary Research43 (1): 61-71.
  • Davis; Lloyd S.; Renner; M. (1995). Penguins. London: T & A D Poyser. ISBN 0-7136-6550-5.
  • Williams; Tony D. (1995). The Penguins – Spheniscidae. Oxford: Nhà xuất bản Đại học Oxford. ISBN 0-19-854667-X.
hiệnxtsChim cánh cụt ( bộ: Sphenisciformes · họ: Spheniscidae · phân họ: Spheniscinae)
hiệnxtsChim ( lớp: Aves)

Thể loại:

  • Chim Nam Cực
  • Chim không bay
  • Họ Chim cánh cụt
  • Chim biển
  • Họ động vật
  • Bộ động vật
  • Bộ Chim cánh cụt

Thể loại ẩn:

  • Nguồn CS1 tiếng Anh (en)
  • Bài viết có trích dẫn không khớp
  • Bản mẫu webarchive dùng liên kết wayback
  • Bài có liên kết hỏng
  • Trang sử dụng liên kết tự động ISBN
tiếng hót của chim ở đâu?

Tác giả: Chuyên mục: Ở đâu Ngày Đăng

Chim cánh cụt sống ở đâu? Những điều thú vị về chim cánh cụt

Chim cánh cụt hay còn gọi là chim cụt cánh, là loài động vật sống ở miền giá lạnh. Vậy, chim cánh cụt sống ở đâu? GiaiNgo sẽ giải đáp thắc mắc ngay sau đây!

Chim cánh cụt là số ít những loài động vật có vẻ ngoài vô cùng đáng yêu. Có vẻ chính vì lẽ đó mà những chú chim cánh cụt dễ thương này đã được dựng thành phim. Vậy, chim cánh cụt sống ở đâu? Sự thật và những điều thú vị về loài chim này sẽ được GiaiNgo  giải đáp ngay sau đây!Chim cánh cụt sống ở đâu?

Chim cánh cụt sống ở Nam Bán Cầu, đông đảo nhất là tại Nam Cực. Chúng không hề sống ngoài tự nhiên ở Bắc Cực. Nam Cực được biết đến là nơi lạnh nhất trên hành tinh chúng ta với nhiệt độ thấp nhất từng được ghi nhận là −89,2 °C.

Chim cánh cụt sống ở đâu?

Đặc điểm chim cánh cụt

Đặc điểm của loài chim cánh cụt:

  • Trung bình, chim cánh cụt khi trường thành sẽ có chiều cao cao từ 40cm – 1.1m, cân nặng từ 1 – 35kg.
  • Chim cánh cụt có phần đầu nhỏ, thuôn dài, mỏ cứng và nhọn.
  • Chim cánh cụt có cặp cánh làm chân chèo và là một thợ lặn chuyên nghiệp. Chúng có thể bơi với vận tốc 15 dặm một giờ.
  • Khi lên bờ, chim cánh cụt đi thẳng đứng bằng 2 chân, nếu điều kiện tuyết cho phép thì chúng có thể trượt với cái bụng mỡ của mình.
  • Thân hình của cánh cụt khá tròn, lưng hơi cong và bụng chảy xệ xuống.
  • Ở dưới vai chim cánh cụt có một đôi cánh không lông trông khá giống phần vây của cá heo
  • Tuổi thọ của chim cánh cụt từ 15 đến 20 năm.
  • Chim cánh cụt sống theo bầy đàn.
  • Cuộc đời của chim cánh cụt một nửa trên cạn, thời gian còn lại là ở dưới lòng của đại dương mênh mông.
  • Lông của chim cánh cụt rất dày, và có 2 màu đen trắng.
Chim cánh cụt sống ở đâu?

Tại sao chim cánh cụt không sống ở Bắc Cực?

Chim cánh cụt không sống ở Bắc Cực là bởi vì chúng sinh ra ở Nam Cực. Đây hoàn toàn là một sự chọn lựa của tự nhiên.

Hồ sơ hóa thạch cho thấy chúng được sinh ra tại Nam Cực. Ở đó chúng an toàn, đủ thức ăn ngon lành, và chúng thoải mái sống với nhiệt độ lạnh tê tái tại Nam Cực.

Chim cánh cụt sống ở đâu?

Có quá nhiều người (và tài liệu) nói rằng chim cánh cụt sống ở Nam Cực để tránh làm mồi nhậu cho lũ gấu trắng (gấu Bắc Cực) và cáo tuyết. Tuy nhiên, sự thật chưa hẳn là như thế.

Theo góc nhìn logic, nếu nói là chim cánh cụt sống ở Bắc Cực rồi chạy trốn đến tận Nam Cực với quãng đường dài vô tận. Chưa kể trên quãng đường di cư còn có vô vàn khó khăn và nguy hiểm rình rập.

Ngoài ra, lớp mỡ và bộ lông của chúng sẽ khiến chúng gặp khó khăn khi đi qua những vùng biển ấm. Với từng đó lý do, câu hỏi hợp lý nhất chúng ta nên đặt ra đó là: “Tại sao chim cánh cụt lại phải rời khỏi Nam Cực?”.Chim cánh cụt có biết bay không?

Chim cánh cụt không biết bay. Giới nghiên cứu đã khám phá ra lý do tại sao chim cánh cụt không thể bay. Theo họ, đó là vì loài chim này đã tiến hóa để biết bơi và lặn nhờ dùng đôi cánh tạo lực đẩy.

Chim cánh cụt sống ở đâu?

Mặt khác do cơ thể của chim cánh cụt chiếm tới 30% là lượng mỡ khiến chúng không thể bay được. Đây có thể được coi là sự thích nghi với môi trường xung quanh của loài chim này với sự khắc nghiệt của Nam Cực.Penguins give birth or lay eggs?

Penguins lay eggs like any other bird. Every year, during the breeding season, the male birds will find a mate to mate with. Normally, penguins can lay about 2 eggs per spawn.

Chim cánh cụt sống ở đâu?

Nach Abschluss ihrer Aufgabe werden sich die weiblichen Vögel fortpflanzen. Die Eier des Pinguins werden innerhalb von 45 Tagen nach der Inkubation ausgebrütet. Die Eltern werden die Küken 13 Monate lang aufziehen und dann gehen. Warum vertragen Pinguine Kälte?

Chim cánh cụt có khả năng chịu lạnh vì chúng có một chiếc “áo lông” được thiết kế đặc biệt để giữ ấm, chắn gió và rũ bỏ nước sau khi cho ăn. Nhiều người nghĩ rằng chim cánh cụt không có lông. Trên thực tế, chim cánh cụt có mật độ lông cao nhất (dày nhất) so với tất cả các loài chim khác.

Chim cánh cụt sống ở đâu?

Lớp mỡ dày từ mẹ thiên nhiên cũng rất quan trọng để có thể thoải mái lặn trong làn nước lạnh như băng. Có thể bạn chưa biết rằng, trung bình một con chim cánh cụt có tới 30% trọng lượng cơ thể được tạo thành từ chất béo.

Một lý do khác là chim cánh cụt là đàn chim. Đặt gần nhau, chúng giúp giảm thiểu sự tiếp xúc của bề mặt cơ thể với gió và không khí lạnh. Chim cánh cụt thích ăn gì?

Chim cánh cụt thích ăn nhuyễn thể, cá và mực. Chế độ ăn của chim cánh cụt hoàn toàn bao gồm hải sản.

Bạn có thể nghĩ rằng thân hình mập mạp và sự nhanh nhẹn chậm chạp của cô ấy thì làm sao mà bắt được con mồi? Tuy nhiên, sự thật lại hoàn toàn trái ngược với những gì bạn nghĩ!

Chim cánh cụt sống ở đâu?

Khả năng bơi lội của những chú chim cánh cụt không khác gì những thợ lặn nước chuyên nghiệp. Bạn có thể bơi với tốc độ 24 km một giờ. Ngoài ra, kết hợp với đôi mắt tinh tường, bộ hàm lợi hại và chiếc lưỡi lởm chởm tạo thành một sát thủ thực thụ dưới nước. Ngoài ra, chúng đôi khi biết cách săn mồi theo nhóm, điều này giúp việc kiếm ăn dễ dàng hơn. Sự thật thú vị về chim cánh cụt

Những Điều Thú Vị Về Chim Cánh Cụt Có Thể Bạn Chưa Biết:

  • Chim cánh cụt là loài chim cổ đại xuất hiện trên thế giới từ rất lâu đời, cách đây khoảng 40 triệu năm.
  • Khi sinh sản, những con chim cánh cụt thay nhau ấp trứng. Chim bố, mẹ đẻ trứng lên bàn chân và dùng vạt áo che bụng để giữ ấm cho trứng.
  • Khi trứng nở, những chú chim cánh cụt con bắt đầu hót líu lo để giúp bố mẹ học cách nhận biết giọng nói của con mình. Vì vậy, chim cánh cụt bố mẹ có thể phát hiện ra con của chúng giữa hàng ngàn chú chim con khác nhau, điều đó thật tuyệt phải không?
  • Chim cánh cụt ăn tuyết vì chúng coi đây là nguồn cung cấp nước ngọt.
  • Chim cánh cụt có thể có thị lực tinh tường ở dưới nước, nhưng trên cạn lại là loài chim … cận thị!
  • Chim cánh cụt có thể uống nước biển vì chúng có khả năng lọc nước muối ra khỏi máu qua khoang mũi và dưới dạng chất lỏng.
  • Lông của chim cánh cụt có màu đen và trắng để giúp chúng ngụy trang. Màu đen dưới nước giúp chúng dễ dàng tiếp cận con mồi. Màu trắng trên cạn giúp chúng tránh được những kẻ săn mồi.
  • Chim cánh cụt là loài động vật rất thông minh.
  • Chim cánh cụt không sợ người.
  • Chim cánh cụt là loài động vật trung thành như chim bồ câu, chúng chỉ giao phối một lần trong đời.
  • Mùi hương và âm thanh là vũ khí sắc bén mà chim cánh cụt cái thường thu hút bạn khác giới.

Một vài hình ảnh chim cánh cụt dễ thương

Trên đây là những thông tin hữu ích về loài chim cánh cụt mà có thể bạn chưa biết. Tuy không đầy đủ nhưng nó đã giúp bạn nhận được rất nhiều thông tin như: B. nơi sinh sống của chim cánh cụt và một số đặc điểm, điều thú vị có thể tìm thấy ở chim cánh cụt. Đừng quên chia sẻ bài viết này và theo dõi GiaiNgo để biết thêm thông tin nhé!

Bài viết liên quan:

  • Vùng đất Bồng Lai Reine ở đâu? Nơi nổi tiếng bởi 5 ‘nhóc tỳ’
  • Rao Moon ở đâu? Nỗi đau thủy điện Rào Trăng 3 vẫn còn đó
  • Walhalla ở đâu? Thánh địa trong thần thoại Bắc Âu
  • Hàm Tử đâu? Câu chuyện anh hùng của trận Hàm Tử
  • Lăng Cha Cả nằm ở đâu? Hình ảnh một góc Sài Gòn xưa


Video Chim cánh cụt sống ở đâu ???

Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết Chim cánh cụt sống ở đâu ???! OVS hi vọng đã mang đến thông tin hữu ích cho bạn. Xem thêm các bài viết cùng danh mục Hỏi đáp. Mọi ý kiến thắc mắc hãy comment bên dưới, chúng tôi sẽ phản hồi sớm nhất có thể. Nếu thấy hay hãy chia sẻ bài viết này cho nhiều người được biết. OVS chúc bạn ngày vui vẻ

The Latest

Copyright © 2015 Flex Mag Theme. Theme by MVP Themes, powered by Wordpress.

To Top