Hỏi đáp

Phố cổ hội an ở đâu ???

Phố cổ Hội An ở đâu? Tỉnh nào? Làm sao?

 0

Nhiều bạn biết đến và quan tâm đến Phố cổ Hội An thông qua các phương tiện truyền thông và Internet. Những ai vẫn chưa biết   Phố Cổ Hội An ở đâu? Tỉnh nào? và cách đi du lịch Hội An. Hãy cùng Du Lịch Hội An giải đáp những thắc mắc trên trong bài viết này. 1. VỊ TRÍ VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA HỘI AN

1.1. Thành phố hội an

Hiện nay, Hội An là thành phố nằm ngay dưới tỉnh Quảng Nam với diện tích khoảng 63,55 km². Được thành lập ngày 29 tháng 01 năm 2008 với 13 đơn vị hành chính gồm 9 huyện: Minh An, Sơn Phong, Cẩm Phô, Cẩm Nam, Tân An, Thanh Hà, Cẩm Châu, Cẩm An, Cửa Đại. Có 4 Giáo xứ: Cẩm Hà, Cẩm Thanh, Cẩm Kim và Giáo xứ cù lao Tân Hiệp – Cù Lao Chàm.

Thành phố Hội An nằm ở vùng hạ lưu ngã ba sông Thu Bồn thuộc vùng đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Nam, cách thành phố Đà Nẵng 28 km về phía đông nam và cách thành phố Tam Kỳ khoảng 50 km về phía đông bắc.

Hội An là thành phố đa dạng về biển và hải đảo đã góp phần tạo nên sự đa dạng về sinh thái và địa lý:

  • Diện tích đất liền khoảng 46,22 km², phía Nam giáp huyện Duy Xuyên, phía Tây và Bắc giáp Điện Bàn, phía Đông giáp Biển Đông với đường bờ biển dài khoảng 7 km.
  • Đảo Cù Lao Chàm thuộc Hội An cách đất liền khoảng 15 km và có 8 hòn đảo lớn nhỏ: Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Ông, Hòn Tai, Hòn Lao, Hòn Lá, Hòn Khô Me, Hòn Khô Con và còn nhiều hơn thế. hơn 3000 người sống trên các hòn đảo.

1.2. Phố cổ Hội An ở đâu?

Ở   Hội An   nó được chia thành hai phần khác nhau:

Phố cổ (Phố cổ Hội An): Thuộc phường Minh An với các tuyến phố chính như Phan Chu Trinh, Trần Hưng Đạo, Trần Phú, Hai Bà Trưng, ​​Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Hoàng Diệu, Bạch Đằng, Nguyễn Thái Học, Trần Quý Cáp, Tiểu La, Nguyễn Duy Hiệu, Nguyễn Thị Minh Khai.

Phần còn lại: Ngoài thành phố cổ Hội An, Hội An còn có những điểm tham quan làng nghề buôn bán, bãi biển, khu du lịch sinh thái,… tại thành phố Hội An mà bạn không thể bỏ qua.

1.3. Toàn cảnh thành phố cổ Hội An

Thành phố cổ Hội An   là một trong những thương cảng sầm uất nhất Đông Nam Á vào thế kỷ 17-18. Nơi đây từng là điểm gặp gỡ, trao đổi hàng hóa của các thương thuyền phương Tây, Trung Quốc và Nhật Bản. Nơi đây còn là nơi lưu giữ những nét văn hóa của Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam cho đến ngày nay. Phố cổ Hội An nằm cạnh sông Thu Bồn thuộc thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.

Hội An hiện còn lưu giữ hơn 1000 di tích cổ. Những ngôi chùa và hội quán của người Hoa được xếp bằng những ngôi nhà truyền thống của Việt Nam và một số ngôi nhà kiểu Pháp. Điều đặc biệt là chùa cầu (cầu Nhật Bản) do người Nhật xây dựng từ thế kỷ XVII. Ngoài ra, Hội An có một nền văn hóa phi vật thể vô cùng đa dạng và phong phú.

Ẩm thực của Hội An cũng rất phong phú với các món ngon đặc sản. Khi đến với Hội An, du khách có cơ hội thưởng thức nhiều món ăn ngon như cao lầu, mì quảng, cơm gà, nghêu xào, bánh đập, bánh mì, chè bắp … Và ghé thăm đảo Cù Lao Chàm để thưởng thức các món ăn. Hải sản tươi sống từ bờ biển miền Trung. 2. LÀM THẾ NÀO ĐỂ ĐI DU LỊCH HỘI AN?

Thành phố cổ Hội An cách thành phố Đà Nẵng không xa, khoảng 30 km về phía Nam. Vì vậy, du khách có thể kết hợp chuyến du lịch của mình với các địa danh Đà Nẵng – Hội An – Cù Lao Chàm. Bạn có thể đến Hội An bằng máy bay, ô tô, tàu hỏa.

Có rất nhiều chuyến bay của các hãng hàng không như Vietnam Airlines, Jetstar, Vietjetair từ các tỉnh đến Đà Nẵng. Bạn có thể tìm kiếm vé giá rẻ hoặc đặt trước từ 3 đến 6 tháng để có giá vé tốt nhất.

Đối với tàu hỏa, bạn có thể sử dụng tuyến đường bắc nam trải dài khắp Việt Nam. Giá vé từ 400.000 – 1.200.000 đồng, tùy loại tàu và loại ghế. Thời gian di chuyển từ Hà Nội hoặc Hồ Chí Minh đến Đà Nẵng khoảng 14-20 giờ.

Đối với ô tô giá dao động khoảng 400.000đ – 500.000đ tùy thời điểm, cũng có thể cao hơn. Mất khoảng 18-20 giờ nếu bạn đi xe từ Hà Hội hoặc Hồ Chí Minh.

Lưu ý: Khi đến   Đà Nẵng,   bạn có thể đi xe khách hoặc taxi vào Hội An. Đối với những bạn đang tự đi, có hai cách bạn có thể thực hiện:

  • Đi theo quốc lộ 1 về phía nam khoảng 17 dặm đến đường Vĩnh Điện. Sau đó rẽ trái 10 km nữa là đến Hội An.
  • Hoặc gần hơn, vắng vẻ hơn, đi bộ từ trung tâm Đà Nẵng qua cầu qua sông Hàn. Lái xe trên tỉnh lộ Đà Nẵng – Hội An, khoảng 30km là đến Hội An.

Phương tiện di chuyển tại Hội An:   Có đầy đủ các dịch vụ vận chuyển tại Hội An như: taxi, xe ôm, xích lô cho bạn lựa chọn. Bạn cũng có thể tự thuê xe máy với giá khoảng 120.000 – 150.000 đồng / ngày. Tuy nhiên, điều thú vị nhất là thuê một chiếc xe đạp hoặc đi bộ quanh khu phố.

Khi đến với Phố cổ Hội An, bạn đừng quên ghé thăm những di tích nổi tiếng ở vùng quê Hội An xinh đẹp. 3. KỊCH BẢN TIÊU BIỂU TẠI HỘI AN

3.1. Chùa cầu

Khi đến Hội An không thể không ghé thăm cây cầu có mái che. Đây là một biểu tượng văn hóa của đô thị Hội An, nằm cạnh đường Nguyễn Thị Minh Khai và Trần Phú. Cây cầu có mái che được xây dựng vào giữa thế kỷ 16 và đã qua nhiều lần trùng tu trong thời gian dài gặp nhiều thiên tai và đã mất đi một số yếu tố của kiến ​​trúc ban đầu.

Bạn có thể tìm hiểu thêm về cầu có mái che tại bài viết: Chùa Cầu Hội An.

3.2. Nhà cổ Tấn Ký

Es ist das älteste antike Haus in Hoi An mit mehr als 200 Jahren. Das alte Haus Tan Ky wurde mit einer einzigartigen Kombination aus drei vietnamesischen – japanischen – chinesischen Architekturen gebaut. Das Innere des Hauses ist nach altem Konzept geschnitzt, gekonnt und raffiniert mit vielen Formen gestaltet, die den Reichtum des Besitzers zeigen. Derzeit befindet sich das alte Haus von Tan Ky in 10 Nguyen Thai Hoc, die Vorderseite des Ladens ist offen, die Rückseite ist zur Bach Dang Straße gerichtet und blickt auf den Fluss als Ort für den Import und Export von Waren.

Um mehr über dieses alte Haus zu erfahren, können Sie weitere Artikel von hoiantrip lesen: Tan Ky altes Haus.

3.3. Versammlungshalle von Fujian

Nơi đây được tương truyền rằng từ là một ngôi miếu nhỏ được dựng lên vào năm 1697 để thờ pho tượng Thiên Hậu Thánh Mẫu được vớt từ bờ biển Hội An. Thiên Hậu Thánh Mẫu là bà chúa phù hộ giúp đỡ cho các thương nhân có thể vượt qua sóng gió của đại dương để đi khắp nơi buôn bán giao dịch. Theo thời gian, hội quán được trùng tu và được đóng góp bởi các Hoa Kiều tại Hội An giúp hội quan phát triển như hiện nay. Nếu muốn tìm hiểu thêm về hội quán Phúc Kiến này bạn có thể xem thêm bài viết: Hội quán Phúc Kiến – nét đẹp văn hóa.

3.4. Làng rau Trà Quế

Trà quế là thương hiệu nổi tiếng về làm rau sách chất lượng của Hội An thu hút được không ít du khách trong và ngoài nước đến đây. Ở đây có trên 20 chủng loại về rau ăn lá, gia vị và rất nhiều loại rau không phải đâu cũng ngon bằng. Ngoài việc tham quan thì du khách khi đến đây có thể hóa mình thành những người dân chăm sóc vườn rau của mình một cách thú vị. Để tìm hiểu them bạn có thể đọc qua bài viết của chúng tôi tại: làng rau trà quế ở hội an.

3.5. Đảo Cù Lao Chàm

Như được nhắc qua một chút ở trên về Cù Lao Chàm gồm 8 đảo và cách biển Cửa Đại không xa khoảng 15km. Ở đảo Cù Lao Chàm có rất nhiều điểm du lịch thú vị mà bạn không thể bỏ qua cũng như những món ăn đặc sắc. Bạn có thể tìm hiểu thêm về chúng qua bài viết: Cù Lao Chàm của hoiantrip.

Còn rất nhiều cảnh đẹp và địa điểm thú vị tại Hội An mà bạn không thể bỏ qua khi đến đây. Bạn có thể xem thể về các địa điểm nay qua các bài viết của chúng tôi tại: https://hoiantrip.org/diem-tham-quan/.

Hy vọng qua bài viết phố cổ Hội An ở đâu? thuộc tỉnh nào? có thể giải đáp được thắc mắc về phố cổ Hội An cũng như cách đi đến Hội An như thế nào.BÀI TRƯỚC 10 ĐẶC SẢN MÙ CANG CHẢI KHIẾN BAO DU KHÁCH MÊ MỆTBÀI TIẾP THEO MÙA MƯA Ở HỘI AN CÓ GÌ ĐẶC BIỆT? TRONG TRẺO VÀ NÊN THƠ

Bài Viết Liên Quan

Phố cổ Hội An ở đâu, di chuyển từ Đà Nẵng như thế nào?

Phố cổ Hội An ở đâu mà đẹp đến thế.

Phố cổ Hội An là điểm đến đã không còn xa lạ gì với mỗi người chúng ta, một cảng thị một thời sầm uất nay đã trở thành một thành phố hiền hòa, mang đậm nét kiến trúc cổ từ thế kỷ 17. Và với những du khách chưa một lần lần đặt chân đến đây, có thể sẽ không biết phố cổ Hội An ở đâu, có gì đẹp. Và từ Đà Nẵng, làm cách nào để di chuyển nhanh nhất.

Tất cả những thắc mắc ấy sẽ được dulichkhampha24 tổng hợp lại ngay tại đây, mọi người trước khi đến nhớ lưu lại để có biết thêm về Hội An, nơi mình sẽ đến.Giới thiệu đôi nét về phố cổ Hội An – điểm đến văn hóa của thế giới

Có thể nói, trên khắp đất nước Việt Nam hiếm thấy điểm đến nào tuyệt vời như Hội An. Nó không chỉ thu hút khách nội địa mà còn là điểm đến của hàng triệu khách quốc tế. Đến với Hội An, bạn sẽ cảm nhận được bề dày và chiều sâu của một nền văn hóa lâu đời. Nơi các kiến trúc di tích vẫn còn được bảo tồn gần như nguyên vẹn, bao gồm nhà cổ, hội quán, chùa chiền, miếu mạo, nhà thờ tộc, giếng, chợ, bến cảng,vv…

Phố cổ Hội An chia đôi bởi dòng sông Hoài thơ mộng.

Với những điều ấy, đến năm 1999, Hội An đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới, cùng với Thánh địa Mỹ Sơn đã tạo nên cho Quảng Nam một thương hiệu riêng – Một điểm đến hai di sản. Giờ đây, dù đã trải qua một thời gian dài hàng thế kỷ, phố cổ Hội An vẫn giữ cho riêng mình một sự yên bình đến lạ thường. Và vô tình, Hội An cũng trở thành điểm đến của hàng triệu du khách, khi họ muốn tìm đến một nơi nào đó, để quên đi cái vội vã, ồn ào. Và từ đó, chìm vào trong không gian im ắng, thơ mộng của phố cổ.

Giờ đây, phố cổ Hội An ngày càng được đổi mới, không phải hiện đại hơn mà nó dần phát triển thành một điểm đến văn hóa. Tại đó, tất cả những gì tinh túy nhất của một cảng thị xưa thể hiện một cách rõ nét nhất. Đó là những lễ hội truyền thống, trò chơi dân gian, được tái sinh một cách chân thực và mới mẻ hơn. Để rồi mỗi du khách khi ghé thăm Hội An, đều cảm thấy bị thu hút, như muốn tìm hiểu thêm nhiều hơn nữa.

>>> Từ Đà Nẵng đi Hội An bao nhiêu km, nên đi lúc nào hợp lý nhất?Phố cổ Hội An ở đâu, cách di chuyển từ Đà Nẵng?

Phố cổ Hội An ở đâu? Cách Đà Nẵng bao nhiêu km?

Được biết, phố cổ Hội An là một đô thị cổ, nằm ở hạ lưu sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam. Nơi này cách du lịch Đà Nẵng chỉ khoảng 30km và cách thánh địa Mỹ Sơn tầm 40km. Lại nói về con sông Thu Bồn, nó cũng chính là một trong lưu vực sông nội địa lớn nhất Việ Nam. Theo dòng thời gian, con sông này đã mang mang đậm các dấu ấn văn hóa, lịch sử. Bắt nguồn từ ngọn núi Ngọc Linh, tỉnh Kon Tum, chảy về phía Cửa Đại để đổ ra biển Đông.

Hội An cách Đà Nẵng không quá xa, có thể đi về trong ngày.

Hội An cũng là một cái tên ấn tượng trong cung đường di sản của miền Trung phải kể đến như Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng, quấn thể di tích cố đô Huế, nhã nhạc cung đình Huế, thánh địa Mỹ Sơn và cuối cùng là phố cổ Hội An.

Lịch sử hình thành phố cổ Hội An

Theo những tài liệu trước đây, Hội An xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ 16, thế nhưng trước đó, nó đã có một lịch sử rất lâu đời. Nơi này đã từng tôn tại hai nền văn hóa lớn, đó là văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Chăm Pa. Trải qua một thời kỳ đầy biến động, Hội An đã dần trở thành một khu vực thương mại. Và chỉ khi người Việt đến đầu vào thế kỷ thứ 15, đó cũng chính lúc chuyển sang giai đoạn ra đời của đô thị Hội An

Bức ảnh trắng đen đầy hiếm hoi về Chùa Cầu còn lưu giữ lại.

Hội An chính thức xuất hiện từ giữa thế kỷ thứ 16, dưới thời vua Lê. Sau nhiều lần tranh dành ngôi báu của nhà Mạc, Nguyễn, đến thời kỳ của vua Nguyễn Hoàng đã cho ra sức phát triển kinh tế Đàng Trong. Từ đó mở rộng giao lưu, buôn bán với nước ngoài, đưa Hội An trở thành một cảng thị sấm uất bậc nhất Đông Nam Á lúc bấy giờ.

Trải qua nhiều thời kỳ biến động, do các chính sách của triều đình nhà Nguyễn cũng hạn chế, nên các thuyền lớn không còn cập bến ở Hội An nữa. Từ đó, Hội An không còn sở hữu vị thế quốc tế quan trọng như trước nữa. Song, nó vẫn phát triển và mở rộng thêm. Đến năm 1980, Hội An đã được chú ý bởi những học giả người Việt Nam, Nhật Bản và các quốc gia phương Tây. Đến tháng 12 năm 1999, phổ cổ Hội An đã được ghi danh là danh sách các Di sản văn hóa thế giới.

Hướng dẫn cách di chuyển đến phổ cổ Hôi An từ Đà Nẵng

Các phương tiện đi từ Đà Nẵng đến Hội An

Đi Hội An bằng taxi

Đây chính là phương tiện nhanh, gọn lẹ nhất trong tất cả các phương tiện. Tùy vào tình hình thực thế, có thể mất từ 45-55 phút để đi từ nội thành Đà Nẵng đến với phố cổ Hội An. Và việc book taxi ở Đà Nẵng cực kỳ dễ dàng, bạn có thể tìm thấy nó ở bất cứ đâu. Bạn có thể chọn 1 trong 2 phương án như sau:

Phương án 1: Gọi taxi trực tiếp thông qua số Hotline của các hãng taxi tại Đà Nẵng

  • Taxi Sông Hàn: 0236.3.72.72.72
  • Taxi Mai Linh: 0236.3.56.56.56.
  • Taxi Tiên Sa Đà Nẵng: 0236.3.79.79.79
  • Taxi VinaSun Green: 0236.3.68.68.68
  • Taxi Hàng Không: 0236.3.27.27.27
Hệ thống taxi ở Đà Nẵng và Hội An cực kỳ nhiều.

Phương án 2: Đặt taxi thông qua ứng dụng Grap

Cái này bạn chỉ cần có một chiếc điện thoại cảm ứng có kết nối mạng và cài đặt ứng dụng đặt xe Grap là có thể book taxi dễ dàng. Ưu điểm của loại hình này đó chính là biết trước giá, thông tin tài xế cũng như hành trình di chuyển.

Dù đi taxi nhanh, tiện lợi nhưng chi phí đi taxi hoặc Grap từ Đà Nẵng đi Hội An khá cao cao, dao động từ 350-400k/ 1 chiều hoặc 700-900k/ khứ hồi từ xe 4 chỗ cho đến xe 16 chỗ. Vì vậy, nếu bạn không có nhiều kinh phí như vậy thì tốt nhất không nên đặt taxi, thay vào đó đi xe bus hoặc là tự chạy xe máy sẽ rẻ hơn.

Đi Hội An bằng xe bus

Đây được xem là phương tiện từ Đà Nẵng đi Hội An có giá thành rẻ nhất. Chỉ với 30k/ lượt, bạn có thể đến với Hội An từ mọi vị trí trong nội thành Đà Nẵng. Vì phải đón thêm khách nên thời gian đi xe bus sẽ lâu hơn so với các phương tiện khác, trung bình từ 70-80 phút. Tuy nhiên, xe bus chỉ thích hợp cho những bạn trẻ muốn tự mình khá phá, ngược lại với những đoàn khách số lượng đông, hoặc có người già, trẻ em thì tốt hơn hết là không nên chọn phương tiện này.

Đi Hội An bằng xe đưa đón

Nếu bạn muốn có một phương tiện vừa nhanh chóng, tiện lợi, hiện đại lại vừa tiết kiệm chi phí, thì nên cân nhắc đến phương án book xe đưa đón. Phương tiện này đảm bảo rẻ hơn đến 20-40% so với chi phí đi taxi, hơn nữa lại có thể hẹn trước thời gian đưa – đón và quan trọng là có thể linh động về thời gian.

Đi Hội An bằng xe máy

Hội An cách TP. Đà Nẵng chỉ khoảng 30km, nên bạn hoàn toàn có thể nghĩ tới việc thuê một chiếc xe máy và tự đi. Hơn nữa, các tuyến đường nối liền 2 thành phố này cực kỳ rộng rãi, sạch đẹp nên đó cũng là một trong những lý do bạn nên có một chuyến phượt Hội An cho chủ động, tự do. Đa phần, mọi người thường sẽ đi Hội An và về Đà Nẵng trong 1 ngày. Hoặc nếu có nhiều thời gian hơn, nên ở lại Hội An 1 đêm để khám phá phổ cổ về đêm rất tuyệt.

Xe máy giúp bạn len lỏi mọi ngõ ngách ở Hội An một cách dễ dàng.

Các tuyến đường đi từ Đà Nẵng đến Hội An

Dù có nhiều tuyến đường đi Hội An từ Đà Nẵng, nhưng thông thường khách du lịch sẽ chỉ chọn 1 trong 2 tuyến đường này là nhiều nhất.

  • Tuyến 1: Từ cầu Rồng – Đi thẳng về đường Võ Văn Kiệt – rẽ trái vào đường Võ Nguyên Giáp – đi thẳng gặp đường Trường Sa – Nối liền đó là đường Lạc Long Quân. Nhìn bên đường, bạn sẽ thấy biển chỉ dẫn vào phố cổ Hội An. Đây cũng là tuyến đường ven biển Mỹ Khê rất đẹp, đường xá rộng rãi dễ đi.
  • Tuyến 2: Từ trung tâm thành phố Hội An – đi theo đường Lê Văn Hiến – đường Trần Đại Nghĩa – Nguyễn Tất Thành – thành phố Hội An. Tuyến đường này thì đông đúc dân cư hơn, nhưng lại không đẹp như tuyến đường biển ở trên.

Các phương tiện được phép đi lại trong phố cổ Hội An

Hiện tại, phố cổ Hội An đã xây dựng thêm phố đi bộ nên cũng hạn chế hơn về phương tiện. Điều này cũng giúp đem lại không gian tham quan yên tĩnh và an toàn cho du khách.

+ Đi bộ: Đây là phương tiện phổ biến nhất, vì phố cổ cũng không quá rộng nên bạn có thể đi bộ để khám phá mọi thứ. Hội An có quy định đưa ra hai khung giờ để tổ chức phố đi bộ, buổi sáng từ 9-11 giờ, còn buổi tối từ 18h-22h00. Khi đó, tất cả các phương tiện có động cơ đều cấm được di chuyển.

Mọi người thường chọn cách đi bộ để cảm nhận mọi thứ tốt hơn.

+ Xe máy: Trừ 2 khung giờ nói trên, bạn hoàn toàn có thể tự do đi lại trong phố cổ Hội An bằng xe máy. Ngoài ra, để đi lại giữa các điểm tham quan ở  xa như làng mộc Kim Bồng, làng gốm Thanh Hà, rau Trà Quế thì nhất thiết phải có một chiếc xe máy để đi lại cho tiện

+ Xe xích lô: Nếu bạn muốn đi chậm, không phải cân não để lái xe, tự do ngắm cảnh cảnh của phố cổ Hội An thì có thể thuê một chiếc xích lô. Phương tiện này có mặt ở hầu hết các tuyến đường trong phố cổ.

+ Xe ôm: Nếu bạn cần đi một tuyến đường khá xa và muốn đi gấp thì đây là một sự lựa chọn phù hợp. Xe ôm phố cổ nằm tập trung ở các ngã ba, ngã tư nên rất dễ tìm.

>>> Thông tin hữu ích nên đọc: phương tiện di chuyển đến Hội An & đi lại ở Hội An tốt nhấtPhố cổ Hội An có gì đẹp và thu hút du khách?

Hội An – nơi ngưng đọng thời gian với những kiến trúc cổ xưa

Điều đặc biệt nhất, ấn tượng nhất để nhớ về Hội An, đó chắc chắn là không gian cổ kính với những lối kiến trúc độc đáo một thời. Nơi đây vẫn còn lưu giữ gần như nguyên vẹn hơn 1000 di tích, bao gồm nhà cổ, đền chùa, nhà thờ, hội quán, giếng cổ,vv… Nổi bật nhất đó là những dãy nhà cổ được xây dựng san sát nhau, tạo nên một khu phố mang đậm kiến trúc cổ.

Những lối kiến trúc nhốm màu thời gian tại phổ cổ Hội An.

Nếu để ý kỹ, bạn sẽ thấy các ngôi nhà phố ở Hội An được xây dựng với 3 không gian riêng biệt đó là khu vực buôn bán, khu vực sinh hoạt và khu vực thờ cúng. Nếu trước đây, những ngôi nhà cổ mang vẻ cũ kỹ, bởi những lớp rêu phong của thời gian, thì giờ đây, cả một khu phố cổ nhỏ bé ấy lại trở nên như nổi bật hơn, bởi sắc vàng hiện đại. Song, điều ấy vẫn không làm mất đi vẻ đẹp cổ kính vốn có của nơi này.

Sự giao thoa văn hóa đậm nét tại phố cổ Hội An

Đã có người nói rằng, đến Hội An là bạn sẽ được đặt chân qua 3 nền văn hóa khác nhau. Đó là sự giao thoa có chọn lọc của văn hóa Nhật Bản, Trung Hoa và văn hóa Việt. Và nếu cảm rõ hơn, thì đó chính là sự giao thoa giữa cái mới và cái cũ, giữa cái ồn ào và bình yên, giữa đời sống và nghệ thuật.

Chùa Cầu là di tích có sự giao thoa rõ nét văn hóa Việt Nhật.

Thể hiện rõ nhất nét giao thoa ấy không đâu khác ngoài những di chỉ văn hóa cổ xưa như Chùa Cầu, Phố Nhật, những hội quán, những món ăn. Sở dĩ có sự giao thoa ấy, là bởi sự du nhập của những thuyền buôn ở Hội An vào những năm của thế kỷ 17. Hội An khi ấy có điều kiện giao lưu về kinh tế và cả văn hóa. Tuy nhiên, sự tiếp nhận ấy không phải là hòa lẫn, mà tiếp thu có chọn lọc. Để tạo nên một phổ cổ Hội An đa sắc màu, song vẫn giữ được cái tinh túy của mình.

Những di tích nổi bật của phố cổ Hội An

Chùa Cầu – nơi giao thoa văn hóa Việt Nhật

Được biết là biểu tượng của phố cổ Hội An, nhưng thực tế thì Chùa Cầu được xây dựng bởi các thương gia người Nhật Bản, khi mà họ đến làm ăn tại Hội An vào thế kỷ thứ 17. Vắt qua một con lạch nhỏ của dòng sông Hoài, một nhánh của sông Thu Bồn, Chùa Cầu tựa như một cánh cung mềm mại với nhiều chi tiết chạm trổ tinh xảo. Ở trên cầu còn chạm 3 chữ Hán “Lai Viễn Kiều” với ý nghĩa là cây cầu của những người bạn phương xa đến.

Chùa Cầu – điểm di tích được nhiều du khách check in

Nhà cổ Tấn Ký

Đây được biết đến là ngôi nhà cổ đẹp và nổi tiếng nhất tại phố cổ Hội An, với lịch sử xây dựng lên đến 200 năm. Nó mang đặc điểm của kiểu nhà hình ống, kiểu nhà đặc trưng ở Hội An. Với mặt trước là nơi để buôn bán, mặt sau là nơi thông ra bến sông. Nội thất bên trong nhà được làm chủ yếu từ các loại gỗ quý hiếm, khắc nhiều hoạt tiết đôc đáo để thể hiện sự giàu có, sung túc của gia chủ lúc bấy giờ.

Nhà cổ Phùng Hưng

Đây cũng là một trong những ngôi nhà cổ đẹp còn sót lại ở Hội An. Về mặt kiến trước, nhà cổ có sự giao lưu giữa các phong cách Á Đông. Nơi này từng là nơi sinh sống của các tầng lớp thương nhân giàu có ở cảng hội xưa. Cái khách biệt của nhà cổ Phùng Hưng so với các nhà cổ khác đó là dù không chạm trổ mà vẫn giữ nguyên thô.

Không gian thờ tự bên trong nhà cổ

Nhà cổ Quân Thắng

Với lịch sử lên đến 150 năm, nhà cổ Quân Thắng được xếp vào danh sách những ngôi nhà cổ nhất ở Hội An. Toàn bộ kiến trúc bên trong đều được điều khắc cực kỳ sinh động, thể hiện phần nào lối sống vương giả của những người chủ nhân của ngôi nhà này.

Hội quán Phúc Kiến

Trước đây, hội quán Phúc Kiến chỉ được biết đến là một gian miếu nhỏ, thờ Bà Thiên Hậu Thánh Mẫu, người đã phù hộ và cứu vớt những người đi biển. Sau nhiều lần trùng tu, tôn tạo nay hội quán đã trở nên bề thế, khang trang và được đánh giá là hội quán đẹp nhất ở Hội An.

Vẻ rực rỡ, khang trang tại Hội quán Phúc Kiến.

Hội quán Triều Châu

Hội quán được xây dựng là để thờ Phục Ba tướng quân Mã Viện, một vị thần có khả năng chế ngự sóng gió để người đi biển luôn được bình an, đắc lợi. Di tích này sở hữu lối kiến trúc có giá trị, với bộ khung gỗ chạm đầy tinh xảo, hương án gỗ và cả những đồ sành sứ đắp nổi rất tuyệt đẹp.

Hội quán Quảng Đông

Trước đây, hội quán thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu và Đức Khổng Tử, về sau chuyển sang thờ thần Quan Công và Tiền Hiền. Kiến trúc của hội quán được tạo nên bởi sự kết hợp giữa chất liệu gỗ và đá, đem đến cho không gian hội quán một vẻ đẹp đường bệ, uy nghiêm.

Hội An các lễ hội truyền thống và trò chơi dân gian đặc sắc

Được biết đến xứ sở của những lễ hội ở Việt Nam, Hội An hằng năm vẫn luôn diễn ra những hoạt động, sự kiện và lễ hội độc đáo. Ngoài các lễ hội nổi tiếng như lễ trung thu, lễ hội thả hoa đăng trên sông Hoài, thì Hội An còn có nhiều lễ hội đặc sắc như lễ Cầu Bông, lễ vía bà Thiên Hậu Thánh Mẫu, lễ tế Cá Ông,…

Xem:  Kiểm nghiệm thực phẩm ở đâu ???
Trò bịt mắt đập niêu thu hút rất nhiều khách đến tham gia.

Bên cạnh đó, điều tạo nên nét văn hóa đặc trưng của phố cổ Hội An cũng phải kể đến cả những trò chơi dân gian đã có từ lâu đời. Hội An cũng được biết đến là cái nôi tái hiện rõ nét các trò chơi dân gian của tỉnh Quảng Nam. Bài Chòi, bịt mắt đập niêu, ô làng, giật cờ, cờ gánh,…

Phố cổ Hội An với nền ẩm thực dân dã

Không chỉ là ở những kiến trúc cổ, vẻ đẹp cổ kính, bình yên mà sức hút của Hội An, một đô thị cổ còn ở ẩm thực. Hầu như mỗi du khách, đã từng đặt chân đến và thưởng thức các món ngon ở đây, đều để lại nhận xét rằng, những món ăn đặc sản đều rất đặc biệt. Để mà nói thì người dân phố cổ, luôn tự hào rằng họ có một nền ẩm thực đa dạng, phong phú với các món ngon dân dã mà đậm vị, tinh túy.

Cao Lầu – món ăn biểu tượng cho ẩm thực phố Hội.

Ẩm thực Hội An luôn khiến người ta ngạc nhiên. Đó là tô cao lầu nhỏ xíu mà gây thương nhớ vô cùng, mì Quảng – đại diện cho ẩm thực Quảng Nam, là cơm gà  với công thức có 1 không 2, hay bánh đập hến xào, món ăn vặt dân dã mà ngon. Cạnh đó còn rất nhiều món ngon khác mà đảm bảo bạn sẽ không thể tìm thấy ở đâu bán ngon hơn ở đây như chè mè đen, bánh khoai nướng, kẹo chỉ, bún mắm, bún thịt nướng, bánh xèo, hải sản…Những cái nhất của phố cổ Hội An khiến bạn phải ngạc nhiên

Hội An – Top 10 thành phố lãng mạn nhất thế giới

Chẳng có gì tự hào hơn khi Hội An, đã xếp ở vị trí thứ 4 trong danh sách 10 điểm đến lãng mạn nhất thế giới. Một Hội An rất riêng, nơi mà khi mọi thứ đã trở nên hiện đại hơn, thì nó vẫn còn ghi dấu với những mái nhà rêu phong, những bức tường vàng cổ kính, những kiến trúc đã có hàng trăm năm. Tất cả đã vô tình tạo nên một không gian bình yên, thơ mộng và cũng không kém phần lãng mạn. Cảm giác bước đi giữa những con đường, ngắm nhìn mọi thứ cũng đủ thấy thời gian như ngưng lại.

Hội An đầy lãng mạn vào mùa lũ

Hội An – Thành phố du lịch tốt nhất châu Á

Trong 2 năm liên tiếp từ năm 2019 đến 2020, Hội An đã liên tiếp đứng đầu top 15 thành phố du lịch tốt nhất châu Á, được báo Mỹ bình chọn. Các tiêu chí đánh giá là Travel + Leisure đưa ra đó là các điểm du lịch, ẩm thực, văn hóa, sự thân thiện và các điểm mua sắm. Khách đến đây chủ yếu là để tham quan, tìm hiểu thêm về các kiến trúc cổ, ngắm nhìn các con kênh và hòa vào nhịp sống về đêm thú vị.

Hội An – Top 10 điểm đến có khách sạn tốt nhất

Theo đánh giá của trang web đặt phòng uy tín nhất hiện nay, Agoda, hệ thống khách sạn ở Hội An nằm trong top tốt nhất của thế giới. Các tiêu chí đánh giá về giá tiền, vị trí, sự thân thiện của nhân viên, điều kiện khách sạn, chất lượng phòng và ẩm thực.

Một resort ở Hội An có view nhìn ra biển thơ mộng

Hội An – Top điểm đến có con kênh nổi tiếng thế giới

Sông Hoài, một nhánh nhỏ của sông Thu Bồn đã thực sự lọt vào mắt xanh của rất nhiều du khách trên khắp thế giới, trong đó có trang Touropia. Trang này đã xếp Hội An ở vị trí thứ 4 trong danh sách các thành phố có con kênh nổi tiếng nhất hành tinh.

Hội An – top 17 điểm selfie đẹp nhất thế giới

Năm 2014, Buzzfeed Traval trang web về du lịch nổi tiếng của thế giới, đã xếp Việt Nam đứng thứ 3 trong top 17 điểm selfie đẹp nhất thế giới. Khách đến du lịch Hội An cực kỳ thích chụp ảnh, tự sướng.

Cafe Faifo trở thành điểm sống ảo của nhiều bạn trẻ.

Di chuyển từ Đà Nẵng đến phố cổ Hội An cần lưu ý gì?

  • Về việc lựa chọn phương tiện di chuyển, nếu đi xe bus các bạn nhớ tìm hiểu lộ trình chạy là như thế nào để biết bắt xe. Nên đi càng sớm càng tốt, để tránh tình trạng xe nhồi nhét. Ngoài ra, xe bus chỉ chạy ban ngày, từ 5h30 đến 18h30 nên bạn nhớ đi chơi thì phải sắp thời gian cho hợp lý. Để khi tham quan xong là có thể bắt xe bus về Đà Nẵng luôn cho kịp.
  • Thời điểm đẹp nhất của phố cổ Hội An, đó chính là vào buổi chiều tối, lồng đèn cũng bắt đầu rực sáng hơn, các hoạt động vui chơi, ăn uống hay đi thuyền cũng rộn ràng hơn vào ban ngày.
  • Nếu đã biết phố cổ Hội An ở đâu, bạn có thể lên lịch để di chuyển thật sớm, để tham quan nhiều nơi nhất có thể. Trước đó, nên liên hệ dịch vụ thuê xe máy Đà Nẵng trước, vì đôi khi vì một số lý do mà bạn sẽ không được thuê ngay, mất thời gian chờ đợi.
  • Nếu muốn mọi thứ thật đơn giản, chủ động và không phải lo về các chi phí phát sinh, các bạn có thể đặt tour Hội An 1 ngày. Tour này khởi hành từ Đà Nẵng, đưa bạn đi qua danh thắng Ngũ Hành Sơn trước sau đó sẽ tranh thủ chở khách về Hội An để kịp khám phá phố cổ về đêm.

Phố cổ Hội An ở đâu, có gì hấp dẫn, giờ thì bạn biết lý do vì sao người ta thường bảo nhau, nhất định phải đến Hội An một lần trong đời. Một bức tranh thủy mặc tuyệt đẹp, nơi ấy vạn vật như ngừng lại, để bạn quay ngược về lịch sử, để thấy rằng Hội An đã từng là một đô thị cổ xinh đẹp và thịnh vượng như thế nào.

Chào mọi người, mình là Diên một cái tên thật lạ nhưng nó cũng đặc biệt như chính con người và sở thích của mình vậy. Mình thích rong ruổi đây đó, thích đi đến những nơi có phong cảnh đẹp, thích ăn những món ngon. Vì mình nghĩ, tuổi trẻ có là bao, cứ sống và trải nghiệm thật nhiều để không phải tiếc nuối. Hãy đồng hành nếu bạn cũng có sở thích du lịch như mình nhé!

Lưu

15°53′0″B 108°20′0″Đ / 15,88333°B 108,33333°Đ

Phố cổ Hội An

Bách khoa toàn thư mở WikipediaBước tới điều hướng Bước tới tìm kiếmĐối với thành phố Hội An hiện nay, xem Hội An.

Phố cổ Hội An là một đô thị cổ nằm ở hạ lưu sông Thu Bồn, thuộc vùng đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Nam, Việt Nam, cách thành phố Đà Nẵng khoảng 30 km về phía Nam. Nhờ những yếu tố địa lý và khí hậu thuận lợi, Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, nơi gặp gỡ của những thuyền buôn Nhật Bản, Trung Quốc và phương Tây trong suốt thế kỷ XVII và XVIII. Trước thời kỳ này, nơi đây cũng từng có những dấu tích của thương cảng Chăm Pa hay được nhắc đến cùng con đường tơ lụa trên biển. Thế kỷ XIX, do giao thông đường thủy ở đây không còn thuận tiện, cảng thị Hội An dần suy thoái, nhường chỗ cho Đà Nẵng khi đó đang được người Pháp xây dựng. Hội An may mắn không bị tàn phá trong hai cuộc chiến tranh và tránh được quá trình đô thị hóa ồ ạt cuối thế kỷ 20. Bắt đầu từ thập niên 1980, những giá trị kiến trúc và văn hóa của phố cổ Hội An dần được giới học giả và cả du khách chú ý, khiến nơi đây trở thành một trong những điểm du lịch hấp dẫn của Việt Nam.

Đô thị cổ Hội An ngày nay là một điển hình đặc biệt về cảng thị truyền thống ở Đông Nam Á được bảo tồn nguyên vẹn và chu đáo. Phần lớn những ngôi nhà ở đây là những kiến trúc truyền thống có niên đại từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19, phân bố dọc theo những trục phố nhỏ hẹp. Nằm xen kẽ giữa các ngôi nhà phố, những công trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng minh chứng cho quá trình hình thành, phát triển và cả suy tàn của đô thị. Hội An cũng là vùng đất ghi nhiều dấu ấn của sự pha trộn, giao thoa văn hóa. Các hội quán, đền miếu mang dấu tích của người Hoa nằm bên những ngôi nhà phố truyền thống của người Việt và những ngôi nhà mang phong cách kiến trúc Pháp. Bên cạnh những giá trị văn hóa qua các công trình kiến trúc, Hội An còn lưu giữ một nền văn hóa phi vật thể đa dạng và phong phú. Cuộc sống thường nhật của cư dân phố cổ với những phong tục tập quán, sinh hoạt tín ngưỡng, nghệ thuật dân gian, lễ hội văn hóa vẫn đang được bảo tồn và phát triển. Hội An được xem như một bảo tàng sống về kiến trúc và lối sống đô thị.

Với những giá trị nổi bật, tại kỳ họp lần thứ 23 cuối năm 1999 (ngày 4 tháng 12), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) đã công nhận đô thị cổ Hội An là một di sản văn hóa thế giới, dựa trên hai tiêu chí:[1]

  • Hội An là biểu hiện vật thể nổi bật của sự kết hợp các nền văn hóa qua các thời kỳ trong một thương cảng quốc tế.
  • Hội An là điển hình tiêu biểu về một cảng thị châu Á truyền thống được bảo tồn một cách hoàn hảo.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Tên gọi “Hội An” (chữ Hán: 會安) ngày nay được hình thành từ rất lâu trong lịch sử, nhưng thật khó có thể xác định chính xác thời điểm ra đời của nó. Theo tác giả Dương Văn An trong cuốn sách Ô Châu cận lục, vào năm 1553, huyện Điện Bàn có 66 xã, trong đó có các xã Hoài Phô, Cẩm Phô, Lai Nghi, nhưng chưa thấy cái tên Hội An được ghi lại. Dưới thời Lê, tấm bản đồ do đại thần Đỗ Bá vẽ in trong Thiên Nam tứ chí lộ đồ có ghi lần đầu tiên các địa danh Hội An phốHội An đàmHội An kiều. Trên tấm bia Phổ Đà Linh Sơn Trung Phật tại động Hoa Nghiêm, Ngũ Hành Sơn ghi tên những người góp tiền xây dựng chùa, tên làng Hội An được nhắc tới ba lần. Thời chúa Nguyễn Phúc Lan, làng Minh Hương được thành lập bên cạnh làng Hội An đã có trước đó. Căn cứ vào văn bản của dinh trấn Quảng Nam thời Minh Mạng gửi trưởng bang Hoa kiều, Hội An phố gồm 6 làng: Hội An, Minh Hương, Cổ Trai, Đông An, Diêm Hộ, Hoa Phô. Nhà nghiên cứu người Pháp Albert Sallet cho rằng làng Hội An là làng quan trọng nhất trong năm làng tạo nên quần cư Hội An cổ, gồm Hội An, Cẩm Phô, Phong Niên, Minh Hương và An Thọ.[2]

Người phương Tây xưa kia gọi Hội An bằng cái tên Faifo. Xuất xứ của cái tên này ngày nay vẫn tồn tại nhiều giả thuyết. Trong cuốn Từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes in tại Roma năm 1651, chữ Hoài phô được định nghĩa: một làng trong xứ Cochinchine mà người Nhật ở và gọi là Faifo.[3] Một giả thuyết phổ biến cho rằng Faifo xuất phát từ tên Hội An phố, cái tên sử sách và địa chí Trung, Việt đều nhắc tới. Theo một thuyết khác, nhánh sông Thu Bồn chảy qua phố cổ Hội An hiện nay có tên là sông Hoài, nên Hội An còn được gọi là Hoài Phố, sau Hoài Phố biến thành Phai Phố, từ đó xuất hiện cái tên Faifo.[4] Trong những thư từ, ghi chép của những giáo sĩ, học giả phương Tây, những cái tên FaifoFaifooFayfooFaisoFacfo… từng xuất hiện nhiều lần. Alexandre de Rhodes trong bản đồ An Nam gồm Đàng Trong và Đàng Ngoài ấn hành năm 1651 có ghi rõ tên Haifo. Về sau, trên bản đồ chính thức của chính quyền Đông Dương, người Pháp đều sử dụng tên Faifo để chỉ Hội An.[5]Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ tiền Hội An[sửa | sửa mã nguồn]

Những ngôi nhà cổ Hội An

Khu đô thị cổ Hội An nằm gần cửa sông Thu Bồn, con sông lớn nhất của tỉnh Quảng Nam. Mặc dù vậy, ngày nay từ trung tâm thành phố tới đến cửa sông cũng không còn gần lắm. Hạ lưu sông Thu Bồn khi đổ ra biển Đông được chia thành nhiều nhánh. Nhánh tiếp xúc với khu phố cổ mang tên sông Hội An, còn dòng chảy giữa hai cồn Cẩm Nam và Cẩm Kim là dòng chính của sông Thu Bồn.[6] Trên những bản đồ cổ thế kỷ 17, 18, Hội An nằm trên bờ Bắc của sông Thu Bồn, thông với biển Đông bẳng cửa Đại Chiêm và một dòng sông nối với cửa Đại của Đà Nẵng, phía ngoài là một doi cát rộng. Dấu vết dòng sông nối liền Hội An với biển Cửa Hàn có thể xác định là con sông Cổ Cò – Đế Võng ngày nay. Trên thủy trình cổ này đã từng tìm thấy nhiều lô tàu, mỏ neo bị chôn vùi trong lòng đất.[7]

Tuy địa danh “Hội An” được cho rằng xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ 16, nhưng vùng đất xung quanh đô thị này đã có một lịch sử rất lâu đời. Trong suốt thời kỳ “tiền Hội An”, nơi đây từng tồn tại hai nền văn hóa lớn, đó là văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Chăm Pa. Di chỉ đầu tiên của văn hóa Sa Huỳnh là phố Sa Huỳnh ở Quảng Ngãi bị cát vùi lấp, được các nhà khảo cổ người Pháp phát hiện. Năm 1937, nữ học giả Madeleine Colani chính thức xác nhận đây là một nền văn hóa. Chỉ riêng trong khu vực thành phố Hội An đã phát hiện được hơn 50 địa điểm là di tích của nền văn hóa này, phần lớn tập trung ở những cồn cát ven sông Thu Bồn cũ.[8] Đặc biệt, sự phát hiện hai loại tiền đồng Trung Quốc thời Hán, những hiện vật sắt kiểu Tây Hán… đã minh chứng ngay từ đầu Công nguyên, nơi đây đã bắt đầu có những giao dịch ngoại thương.[9] Một đặc điểm khác có thể nhận thấy là khu vực Hội An không có những dấu tích của thời kỳ đầu và giữa,[10] nhưng mảnh đất nơi đây đã từng tồn tại và có sự phát triển rực rỡ nền văn hóa Sa Huỳnh muộn.[9]

Tiếp sau nền văn hóa Sa Huỳnh, suốt từ thế kỷ 2 đến đến thế kỷ 15, một dải đất miền trung Việt Nam nằm dưới sự thống trị của vương quốc Chăm Pa. Những di tích đặc trưng của nền văn hóa này là các nhóm điện thờ đạo Hindu phân bổ dọc từ miền Trung tới miền Nam, và một trong những trung tâm đó nằm ở lưu vực con sông Thu Bồn. Ở đây, có thể thấy một thủ phủ mang tính chính trị tại Trà Kiệu và một trung trung tâm mang tính tôn giáo nằm tại Sởn Mi.[11] Những dấu tích đền tháp Chăm còn lại, những giếng nước Chăm, những pho tượng Chăm, những di vật của người Đại Việt, Trung Hoa, Trung Đông thế kỷ 2 – 14 làm sáng tỏ giả thuyết nơi đây từng có một Lâm Ấp Phố với một cảng biển là Đại Chiêm phát triển hưng thịnh. Nhiều thư tịch cổ ghi nhận trong một thời gian khá dài, Chiêm cảng – Lâm Ấp Phố đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo nên sự phồn vinh của kinh thành Trà Kiệu và khu di tích đền tháp Mỹ Sơn.[9] Trải qua nhiều cuộc chiến tranh, vương quốc Chăm Pa bị Đại Việt đẩy dần về phía Nam. Năm 1471, thủ phủ cuối cùng của Chăm Pa ở Bầu Giá, Bình Định ngày nay, bị nhà Lê chiếm. Vùng đất Hội An trở thành lãnh thổ của Đại Việt từ đó, nhưng phải về sau nơi đây mới phát triển thành một khu vực thương mại. Hội An được hình thành dựa trên sự kế thừa cảng biển của người Chăm và người Việt bắt đầu tới đây từ thế kỷ 15. Đó là bước chuẩn bị trực tiếp cho sự ra đời của đô thị Hội An.[11]

Thời kỳ Hội An[sửa | sửa mã nguồn]

Ra đời và phát triển phồn vinh[sửa | sửa mã nguồn]

Hội An ra đời vào khoảng nửa cuối thế kỷ 16, thời kỳ Việt Nam nằm dưới sự trị vì của nhà Lê. Vào năm 1527, Mạc Đăng Dung giành ngôi nhà Lê, vùng Đông Kinh thuộc quyền cai quản của nhà Mạc. Năm 1533, Nguyễn Kim nhân danh nhà Lê tập hợp binh sĩ chống lại nhà Mạc. Sau khi Nguyễn Kim chết năm, người con rể Trịnh Kiểm nắm giữ quyền hành, dòng họ Nguyễn Kim bị lấn át. Năm 1558, người con thứ của Nguyễn Kim là Nguyễn Hoàng cùng gia quyến và một số binh lính lui về cố thủ ở vùng Thuận Hóa và từ sau năm 1570, Nguyễn Hoàng tiếp tục nắm quyền trấn thủ Quảng Nam.[12] Cùng với con trai là Nguyễn Phúc Nguyên, Nguyễn Hoàng xây dựng thành lũy, ra sức phát triển kinh tế Đàng Trong, mở rộng giao thương buôn bán với nước ngoài và Hội An trở thành thương cảng quốc tế sầm uất bậc nhất khu vực Đông Nam Á thời kỳ đó.[13]Hội An trong bức họa Giao Chỉ quốc mậu dịch độ hải đồ

Thế kỷ 17, trong khi vẫn tiếp tục cuộc chiến với chúa Trịnh ở miền Bắc, chúa Nguyễn không ngừng khai phá miền Nam, lấn chiếm lãnh thổ của người Chăm. Trên những vùng đất do chúa Nguyễn cai quản, có những khu phố nước ngoài hình thành dựa trên một số luật lệ nhằm bảo hộ cho các hoạt động thương mại của người ngoại quốc.[14] Vào năm 1567, triều đình nhà Minh của Trung Quốc từ bỏ chủ trương bế quan tỏa cảng, cho thuyền buôn vượt biển giao thương với các quốc gia vùng Đông Nam Á, nhưng vẫn cấm xuất khẩu một số nguyên liệu quan trọng sang Nhật Bản. Điều này đã bắt buộc Mạc phủ Toyotomi rồi Mạc phủ Tokugawa cấp phép cho các thuyền buôn Châu Ấn sang mở rộng quan hệ thông thương với Đông Nam Á và mua lại hàng hóa Trung Quốc từ các quốc gia đó.[15] Những con tàu Châu Ấn bắt đầu xuất dương từ năm 1604 dưới thời Mặc phủ Tokugawa, cho tới năm 1635, khi chính sách đóng cửa được ban bố, đã có ít nhất 356 con tàu Châu Ấn ra đời.[14] Nơi thuyền Châu Ấn đi qua nhiều nhất chính là cảng Hội An. Trong vòng 30 năm, 75 con tàu Châu Ấn đã cập cảng nơi đây, so với 37 con tàu cập bến Đông Kinh, khu vực do chúa Trịnh cai trị.[16] Các thương nhân người Nhật khi đó tới bán những đồ đồng, tiền đồng, sắt, đồ gia dụng… và mua lại đường, tơ lụa, trầm hương… Khoảng năm 1617, phố Nhật Bản ở Hội An được hình thành[14] và phát triển cực thịnh trong đầu thế kỷ 17.[17] Qua bức họa Giao Chỉ quốc mậu dịch độ hải đồ của Chaya Shinroku, có thể thấy khu phố người Nhật với những công trình kết cấu gỗ hai, ba tầng.[14] Thuyền trưởng người Hà Lan Delft Haven ghi lại năm 1651, Hội An khi đó có khoảng 60 căn nhà của người Nhật nơi dọc bờ sông, nhà cửa xây bằng đá để tránh hỏa hoạn, nằm sát vách nhau.[18] Nhưng khoảng thời gian tiếp sau, do chính sách bế quan của Mạc phủ Tokugawa cũng những chính sách đàn áp người Nhật Công giáo của chúa Nguyễn,[19] khu phố Nhật ở Hội An dần bị lu mờ. Mặc dù vẫn còn một số nhỏ người Nhật định cư lại đây nhưng người Hoa dần thay thế vai trò của người Nhật trong việc buôn bán.[14]

Khác với người Nhật, những người Hoa biết đến Hội An từ rất sớm, ngày từ thời vùng đất này còn thuộc về vương quốc Chăm Pa. Đến thời kỳ người Việt thay thế người Chăm, những thương nhân Trung Hoa vẫn tiếp tục tới buôn bán vì các tỉnh miền Nam của Trung Quốc rất cần các mặt hàng muối, vàng, quế… Mặc dù vậy, trong suốt thời kỳ tiền Hội An, người Hoa chỉ tới buôn bán rồi trở về, không ở lại định cư, lập phố xá.[20] Phải sau loạn Minh Thanh xảy ra khoảng giữa thế kỷ 17, đặc biệt sau khi nhà Minh bị thất thủ, rất nhiều người Hoa di cư tới Trung Bộ Việt Nam và xây dựng nên nhiều cộng đồng Minh Hương Xã. Tại Hội An, người Hoa tới lưu trú ngày một nhiều và thế chân người Nhật nắm quyền buôn bán. Cảng thị Hội An khi đó là nơi tập trung nhiều nhất hàng hóa ngoại quốc. Khu phố dọc bờ sông, được gọi khu Đại Đường, kéo dài 3, 4 dặm. Các cửa hàng hai bên phố không khi nào rảnh rỗi. Dân cư ở đây phần lớn là người Phúc Kiến, mọi người ăn vận theo trang phục của nhà Minh. Nhiều người Trung Quốc tới định cư để buôn bán đã kết hôn với những phụ nữ bản địa.[21] Bên cạnh những người Hoa nhập quốc tịch Việt Nam, nhiều người Hoa khác vẫn giữ quốc tịch Trung Quốc mà người Việt thường gọi là Khách trú.[22] Năm 1695, sứ giả người Anh Thomas Bowyear của Công ty Đông Ấn Anh đến đàm phán với chúa Nguyễn về việc xây dựng một khu cư trú tại Hội An. Việc thương thảo tuy không thành, nhưng cũng đã để lại một ghi chép:

Khu phố Faifo này có một con đường nằm sát với sông. Hai bên đường có khoảng 100 ngôi nhà xây dựng san sát nhau. Ngoại trừ khoảng bốn năm ngôi nhà là của người Nhật còn lại toàn bộ là của người Hoa. Trước kia, người Nhật đã từng là cư dân chủ yếu của khu phố này và là chủ nhân phần lớn của các hoạt động thông thương ở bến cảng Hội An. Bây giờ, vai trò thương nghiệp chính đã chuyển sang cho người Hoa. So với thời kỳ trước thì không được sầm uất, nhưng hàng năm ít nhất cũng có từ 10 đến 12 tàu của các nước Nhật Bản, Quảng Đông, Xiêm, Campuchia, Manila, và có cả tàu của Indonesia cũng đến cảng thị này.[21]

Thời kỳ suy vong[sửa | sửa mã nguồn]

Bến sông Hội An cuối thế kỷ 18

Thế kỷ 18, khi cuộc khởi nghĩa Tây Sơn diễn ra ở miền Nam, chúa Trịnh đánh chiếm Quảng Nam dinh năm 1775, cảng thị Hội An rơi vào cảnh chiến tranh loạn lạc.[23] Sau khi chiếm được Hội An, quân Trịnh đã triệt phá những nhà cửa thuộc khu vực thương mại, chỉ để lại các công trình tín ngưỡng.[24] Nhiều nhân vật quan trọng của dòng họ Nguyễn cùng những thương gia người Hoa giàu có đã di cư vào miền Nam, mang theo của cải và lập nghiệp tại Sài Gòn – Chợ Lớn, để lại một Hội An điêu tàn, đổ nát.[25] Năm 1778, một người Anh Charles Chapman đi qua đây sau thời Tây Sơn đã ghi lại: “Khi tới Hội An, thành phố lớn này chẳng còn lại là bao những khu phố được quy hoạch quy củ với những ngôi nhà xây bằng gạch, đường lát đá mà chỉ thấy một cảnh hoang tàn làm cho ta cảm thấy xót xa. Trời ơi, những công trình ấy bây giờ chỉ còn đọng lại trong ký ức mà thôi.”[26] Khoảng 5 năm sau, cảng thị Hội An mới dần dần hồi sinh, hoạt động thương mại được phục hồi nhưng không được như trước. Người Việt cùng người Hoa cùng xây lại thành phố từ những đống đổ nát cũ, những ngôi nhà mới mọc lên theo kiến trúc của họ và vô tình, dấu vết của khu phố Nhật Bản đã bị xóa đi mãi mãi.[27]

Thế kỷ 19, cửa sông Cửa Đại ngày càng bị thu hẹp lại và con sông Cổ Cò cũng bị phù sa bồi lấp, khiến các thuyền lớn không còn ghé được cảng Hội An. Bên cạnh đó, triều đình nhà Nguyễn cũng thực hiện chính sách đóng cửa, hạn chế quan hệ với nước ngoài, đặc biệt các quốc gia phương Tây. Từ đó, Hội An dần suy thoái, mất đi vị thế cảng thị quốc tế quan trọng.[28] Mặc dù vậy, với vai trò một trung tâm thương nghiệp lớn, thành phố vẫn được phát triển, những con đường mới về phía Nam dòng sông được xây dựng và các khu phố được mở rộng thêm.[26] Năm Minh Mạng thứ 5, nhà vua có qua Hội An, nhận thấy nơi đây không còn sầm uất như xưa, nhưng vẫn hưng thịnh hơn các thị trấn khác của người Việt.[25] Năm 1888, khi Đà Nẵng trở thành nhượng địa của Pháp, nhiều người Hoa tới đó để bỏ vốn lập các cơ sở vận tải, thương mại, một số khác tiếp tục duy trì hoạt động kinh doanh ở cả Hội An và Đà Nẵng.[29] Nhưng do giao thông đường thủy ngày càng trở nên khó khăn, cùng với chính sách phát triển Đà Nẵng của người Pháp, hoạt động thương nghiệp ở Hội An dần bị đình trệ. Mặc dù vậy, phần lớn các kiến trúc nhà ở trong khu phố cổ, các hội quán còn lại đến ngày nay đều có hình dáng được tạo nên từ giai đoạn này.[30]

Đầu thế kỷ 20, tuy mất đi vai trò cảng thị quan trọng, hoạt động buôn bán ở Hội An chưa khi nào chấm dứt và nơi đây vẫn là thị xã, thủ phủ của tỉnh Quảng Nam. Khi tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng được thành lập vào năm 1976, thành phố Đà Nẵng trở thành tỉnh lỵ của tỉnh mới, Hội An rơi vào một thời kỳ bị quên lãng.[29] Chính nhờ sự thay đổi vai trò trong lịch sử, cộng với nhiều yếu tố khác nên Hội An đã may mắn tránh được sự biến dạng của quá trình đô thị hóa mạnh mẽ ở Việt Nam trong thế kỷ 20.[31] Từ thập niên 1980, Hội An bắt đầu nhận được sự chú ý của các học giả Việt Nam, Nhật Bản và phương Tây. Tại kỳ họp lần thứ 23 từ 29 tháng 11 đến 4 tháng 12 năm 1999 ở Marrakech, Tổ chức Giáo dục Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc đã ghi tên Hội An vào danh sách các di sản thế giới. Đô thị cổ Hội An dần phồn vinh trở lại nhờ những hoạt động du lịch.[13]Kiến trúc đô thị[sửa | sửa mã nguồn]

Xem:  Anh nhà ở đâu thế hợp âm ???

Khu phố cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Khu phố cổ nằm trọn trong phường Minh An, diện tích khoảng 2 km², với những con đường ngắn và hẹp, có đoạn uốn lượn, chạy dọc ngang theo kiểu bàn cờ. Nằm sát với bờ sông là đường Bạch Đằng, tiếp đó tới đường Nguyễn Thái Học rồi đường Trần Phú nối liền với Nguyễn Thị Minh Khai bởi Chùa Cầu. Do địa hình khu phố nghiêng dần từ Bắc xuống Nam, các con đường ngang Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Hoàng Văn Thụ và Trần Quý Cáp hơi dốc dần lên nếu đi ngược vào phía sâu trong thành phố.[32] Đường Trần Phú xưa kia là con đường chính của thị trấn, nối từ Chùa Cầu tới Hội quán Triều Châu. Vào thời Pháp thuộc, đường này được mang tên Rue du Pont Japonnais, tức Phố cầu Nhật Bản.[33] Ngày nay, đường Trần Phú rộng khoảng 5 mét với nhiều ngôi nhà không có phần hiên, kết quả của lần mở rộng khoảng cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20.[34] Hai con đường Nguyễn Thái Học và Bạch Đằng hình thành muộn hơn, đều do bùn đất bồi lấp. Đường Nguyễn Thái Học xuất hiện năm 1840, sau đó được người Pháp đặt tên là Rue Cantonnais, tức Phố người Quảng Đông. Đường Bạch Đằng ra đời năm 1878, nằm sát bờ sông nên xưa kia từng có tên gọi là Đường Bờ Sông.[33] Nằm sâu về phía thành phố, tiếp theo đường Trần Phú là đường Phan Chu Trinh, con đường mới được xây dựng thêm vào khoảng thời gian sau này.[34] Trong khu phố cổ còn nhiều đường hẻm khác nằm vuông góc với đường chính kéo dài ra đến tận bờ sông.[35]

Đường Trần Phú là con đường chính, nơi tập trung nhiều nhất những công trình kiến trúc quan trọng, cũng như những ngôi nhà cổ điển hình cho kiến trúc Hội An. Nổi bật nhất trong số này là các hội quán do người Hoa xây dựng để tưởng nhớ đến quê hương của họ. Nếu bắt đầu từ Chùa Cầu, sẽ thấy năm hội quán trên đường Trần Phú, tất cả đều bên số chẵn: Hội quán Quảng Đông, Hội quán Trung Hoa, Hội quán Phúc Kiến, Hội quán Quỳnh Phủ và Hội quán Triều Châu. Ở góc đường Trần Phú và Nguyễn Huệ là miếu Quan Công, di tích đặc trưng cho kiến trúc đền miếu của người Minh Hương ở Việt Nam. Ngay sát miếu về phía Bắc, có thể thấy Bảo tàng Lịch sử – Văn hóa Hội An, nguyên trước đây là ngôi chùa Quan Âm của dân làng Minh Hương. Bảo tàng văn hóa Sa Huỳnh và Bảo tàng Gốm sứ Mậu dịch cũng nằm trên con đường này.[36] Theo đường Trần Phú, đi qua Chùa Cầu sẽ dẫn tới đường Nguyễn Thị Minh Khai. Những ngôi nhà truyền thống ở đây được tu bổ và bảo tồn rất tốt, phần lối đi bộ hai bên được lát gạch đỏ, phía cuối đường là vị trí của đình Cẩm Phô.[37] Phía Tây đường Nguyễn Thái Học có một dãy phố được hình thành bởi những ngôi nhà có kiến trúc mặt tiền kiểu Pháp, còn phần phía Đông là khu phố mua bán nhộn nhịp với những ngôi nhà kiểu hai tầng, diện tích lớn. Bảo tàng Văn hóa Dân gian Hội An nằm ở số 33 của con đường này là ngôi nhà cổ lớn nhất khu phố cổ, có chiều dài 57 mét, chiều ngang 9 mét. Trong mùa mưa bão, đường Nguyễn Thái Học và khu vực xung quanh thường bị ngập lụt, dân cư phải sử dụng thuyền để đi mua sắm và đến các quán ăn.[38] Khu phố phía Đông phố cổ từng là khu phố của người Pháp. Trên đường Phan Bội Châu, dãy phố phía Tây được xây dựng san sát những ngôi nhà với mặt đứng kiểu châu Âu, đa số một tầng. Nơi đây từng là nhà ở của các công chức dưới thời Pháp thuộc.[39]

Kiến trúc truyền thống[sửa | sửa mã nguồn]

Một ngôi nhà hai tầng vách gỗ có ban côngThềm nhà

Kiểu nhà ở phổ biến nhất ở Hội An chính là những ngôi nhà phố một hoặc hai tầng với đặc trưng chiều ngang hẹp, chiều sâu rất dài tạo nên kiểu nhà hình ống. Những vật liệu chính dùng để xây dựng nhà ở đây đều có sức chịu lực và độ bền cao do đặc điểm khí hậu khắc nghiệt và bão lụt hàng năm của vùng này. Thông thường, các ngôi nhà có kết cấu kiểu nhà khung gỗ, hai bên có tường gạch ngăn cách. Khuôn viên trung bình của các ngôi nhà có chiều ngang khoảng 4 đến 8 mét, chiều sâu khoảng 10 đến 40 mét, biến thiên theo từng tuyến phố. Bố cục mặt bằng phổ biến của những ngôi nhà ở đây gồm: vỉa hè, hiên, nhà chính, nhà phụ, hiên, nhà cầu và sân trong, hiên, nhà sau ba gian, vườn sau.[40] Thực chất, nhà phố ở Hội An bao gồm nhiều nếp nhà bố trí theo chiều sâu và cấu thành không gian kiến trúc gồm 3 phần: không gian buôn bán, không gian sinh hoạt và không gian thờ cúng.[41] Cách phân chia này phù hợp với mặt bằng hẹp và kết hợp nhiều công năng của ngôi nhà. Có thể nhận thấy đây là một sản phẩm kiến trúc mang tính văn hóa khu vực.[42]

Ở không gian nhà chính, hệ thống 16 cây cột phân bố 4 x 4 tạo thành phân vị chiều ngang và chiều sâu theo cấu trúc 3 x 3 gian, trong đó 4 cột trung tâm cao hơn hẳn các cột còn lại. Đây chính là không gian dành cho buôn bán với gian đầu từ đường vào là chỗ bán hàng, gian kế tiếp là kho hàng hóa được ngăn bằng vách, gian thứ ba bố trí nhà thờ quay mặt vào bên trong.[40] Điểm đặc biệt này là một đặc trưng rất quan trọng của nhà phố Hội An, dù đôi khi cũng có trường hợp bàn thờ quay ra phía đường.[43] Bên cạnh các nhà chính phổ biến dạng 3 x 3 gian, một số ít ngôi nhà khác có nhà chính rộng hoặc hẹp hơn, kiểu 3 x 2 gian hoặc 3 x 5 gian. Không gian tiếp theo nhà chính là nhà phụ, thường thấy ở những ngôi nhà hai tầng có chiều cao thấp. Khoảng không gian mở này vừa được tiếp nối với mặt đường, vừa tách biệt với những hoạt động buôn bán phía ngoài, lại có thể tiếp nhận ánh sáng của sân trời, được dùng làm nơi gia chủ tiếp khách.[41] Nhà cầu và sân trong là không gian được chia hai phần theo chiều dọc, có kết cấu độc lập với nhà trước và nhà sau, mang chức năng chuyển tiếp. Phần sân trời được lát đá, trang trí bể nước, non bộ, cây cảnh, giúp ngôi nhà thoáng và hòa hợp với thiên nhiên hơn. Ngược lại, phần nhà cầu có mái nối liền nhà trước với nhà sau thành một cơ cấu liên tục, rất phù hợp với điều kiện khí hậu nhiều mưa và nắng nóng ở đây. Dù trong bất kỳ điều kiện thời tiết nào, mọi sinh hoạt trong nhà vẫn có thể diễn ra bình thường. Nhà sau là không gian sinh hoạt của cả gia đình, được ngăn buồng bằng các vách gỗ. Phía sau nhà sau còn một khoảng không gian nữa, dành cho bếp, nhà vệ sinh và các chức năng phụ khác.[44] Đối với một ngôi nhà thông thường, không gian thờ cúng chỉ chiếm một phần nhỏ, nhưng luôn được dành riêng một vị trí quan trọng. Để các công năng buôn bán, vận chuyển hàng hóa, sinh hoạt không bị cản trở, ban thờ thường được chuyển lên gác lửng. Ở những ngôi nhà một tầng, ban thờ được đặt ở phần mái phụ của nhà trước hoặc trung tâm nhà sau.[45] Trong những ngôi nhà hai tầng, toàn bộ tầng hai của nhà chính thường được dùng làm kho hàng và ban thờ cũng được bố trí ở tầng này.[46]

Những ngôi nhà ở Hội An hầu hết được làm theo dạng hai mái, đa số nhà chính và nhà phụ không chung một mái mà là hai nếp mái kế tiếp nhau. Rất ít trường hợp mái nhà chính phủ lên cả phần nhà phụ. Ngược lại, đa số nhà cầu được lợp theo kiểu bốn mái. Trên mặt bằng tổng thể thì nhà trước, nhà cầu và nhà sau được lợp bằng những mái riêng biệt.[43] Ngói ở Hội An là loại ngói làm từ đất, mỏng, nung thô, mang hình vuông, mỗi cạnh khoảng 22 cm và có dạng hơi cong. Khi lợp, đầu tiên người ta xếp một hàng ngói ngửa lên và sau đó tiếp tới một hàng ngói úp xuống. Cách lợp này được gọi là kiểu lợp ngói âm dương. Khi lợp xong mái, các viên ngói được cố định bằng vữa, tạo thành những dải ngói nhô lên dọc xuôi theo mái, khiến toàn bộ mái toát nên một vẻ cứng cáp, mạnh mẽ.[47] Ở trên đỉnh mái, phần nóc mái được xây cao lên hình chữ nhật như một cái hộp, cũng có một số trường hợp hai bên tường hồi cũng được xây cao hẳn làm cho toàn bộ tổng thể dường như bị mất cân đối. Hình thức và cách trang trí của tường hồi luôn gây một ấn tượng mạnh và là yếu tố tạo ra giá trị rất riêng của phố cổ Hội An.[48]

Phân loại nhà phố theo mặt đứng[49]
Nhóm Phân bổ Niên đại
Nhà một tầng vách gỗ Trần Phú, Lê Lợi Thế kỷ 18 và thế kỷ 19
Nhà hai tầng có mái hiên Trần Phú, Nguyễn Thị Minh Khai Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20
Nhà hai tầng vách gỗ có ban công Nguyễn Thái Học, Nguyễn Thị Minh Khai Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20
Nhà hai tầng tường gạch Nguyễn Thái Học, Trần Phú Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20
Nhà hai tầng kiến trúc Pháp Nguyễn Thái Học Đầu thế kỷ 20

Các di tích kiến trúc[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù phần lớn các ngôi nhà phố của Hội An ngày nay được hình thành vào thời kỳ thuộc địa, nhưng trong khu phố cổ vẫn gìn giữ được nhiều di tích phản ánh các giai đoạn lịch sử hình thành, hưng hịnh và suy tàn của đô thị. Các loại hình kiến trúc từ thế kỷ 16 đến đầu thế kỷ 18 thường mang chức năng có bản, bị tác động bởi nền kinh tế, yếu tố cảng thị của Hội An khi đó.[50] Tiêu biểu cho giai đoạn này là những bến thuyền, giếng nước, chùa chiền, đền miếu, cầu, mộ, những nhà thờ tộc và các thương điếm. Từ thế kỷ 18, Hội An không còn vị trí thương cảng bậc nhất nữa. Thời kỳ này xuất hiện phổ biến những văn miếu, văn chỉ, đình, nhà thờ và đặc biệt là các hội quán. Qua sự phân bố, quy mô, hình thức, chức năng của các công trình kiến trúc, có thể thấy sự chuyển đổi của Hội An trong giai đoạn này.[51] Thời kỳ Pháp thuộc, cũng như nhiều đô thị khác của Việt Nam, Hội An chịu ảnh hưởng sâu đậm của kiến trúc Pháp. Những ngôi nhà mang phong cách thuộc địa xuất hiện nhiều và tập trung trên một tuyến phố. Sự đan xen phong cách kiến trúc Pháp giữa những ngôi nhà cổ truyến thống là hệ quả của một lối sống phương Tây đã xuất hiện trong đời sống của cư dân Hội An.[52] Các công trình thời kỳ này giữ được vẻ hài hòa trong ngôn ngữ kiến trúc, mềm dẻo trong trang trí, phù hợp với không gian đô thị, mang lại cho Hội An một dáng vẻ mới.[51] Theo thống kê tháng 12 năm 2000, Di sản thế giới Hội An có 1360 di tích gồm 1068 nhà cổ, 11 giếng nước cổ, 38 nhà thờ tộc, 19 ngôi chùa, 43 miếu thờ thần, 23 đình, 44 mộ cổ loại đặc biệt và 1 cây cầu. Khoảng hơn 1100 di tích trong số này nằm trong khu vực đô thị cổ.[53]

Chùa, đền miếu[sửa | sửa mã nguồn]

Hội An từng là một trung tâm của Phật giáo sớm của Đàng Trong với đa số các ngôi chùa theo dòng Tiểu thừa. Nhiều ngôi chùa ở đây có niên đại khởi dựng khá sớm, nhưng hầu hết kiến trúc gốc đã bị thay đổi, thậm chí mai một qua những biến thiên của lịch sử và những lần trùng tu.[54] Ngôi chùa sớm nhất được biết đến là chùa Chúc Thánh, tương truyền có gốc gác từ năm 1454, nằm cách trung tâm khu phố cổ khoảng 2 km về phía Bắc.[55] Nơi đây vẫn lưu giữ nhiều di vật, tượng thờ, bia ký liên quan đến quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo ở Đàng Trong.[56] Ngoại ô khu phố cổ còn nhiều ngôi chùa khác như Phước Lâm, Vạn Đức, Kim Bửu, Viên Giác… mang niên đại muộn hơn. Giai đoạn đầu thế kỷ 20 cũng là thời kỳ ra đời của nhiều ngôi chùa mới, nổi bật trong số này là chùa Long Tuyền hoàn thành vào năm 1909.[57] Bên cạnh những ngôi chùa tách khỏi làng xóm, nằm ven những dòng chảy cổ, ở Hội An còn có các ngôi chùa làng gắn với những quần cư như một thành phần hữu cơ của tổng thể làng xóm. Điều này phản ánh giới tu hành gắn bó với thế tục và chứng tỏ Minh Hương Xã ở đây đã có một thiết chế văn hóa sinh hoạt cộng đồng khá mạnh.[58] Trong khu phố cổ, Bảo tàng Lịch sử – Văn hóa Hội An nguyên trước đây là ngôi chùa thờ Phật bà Quan Âm do người Việt và người Minh Hương khởi dựng vào khoảng thế kỷ 17.[59]Chùa Pháp Bảo

Các công trình đền miếu ở Hội An mang chức năng chính là nơi thờ cúng các vị tiên hiền có công sáng lập phố, hội và Minh Hương Xã. Loại hình kiến trúc này thường có hình thức đơn giản, nằm ngay trong làng xóm, bố cục mặt bằng 1 x 3 gian tường gạch chịu lửa, mái ngói âm dương với ban thờ được đặt ở gian chính giữa.[60] Tiêu biểu nhất cho loại hình kiến trúc này chính là miếu Quan Công, còn được gọi là Chùa Ông, nằm trong trung tâm khu phố cổ, số 24 đường Trần Phú. Công trình được người Minh Hương và người Việt khởi dựng vào năm 1653, thờ Quan Công, vị tướng thời Tam Quốc, biểu tượng của trung hiếu, tiết nghĩa. Tuy đã qua nhiều lần trùng tu, miếu Quan Công vẫn không mất đi dáng vẻ ban đầu.[61] Toàn bộ miếu bao gồm nhiều nếp nhà với các mái lợp bằng ngói ống men màu xanh lục, kết cấu gồm ba phần: tiền sảnh, sân trời và hậu sảnh. Ở phần tiền sảnh, công trình nổi bật với màu sơn đỏ, những trang trí cầu kỳ, mái ngói vững trãi và hai cánh cửa chính lớn chạm nổi đôi rồng màu xanh đang uốn mình trong mây. Hai bên, sát với tường là chiếc chuông đồng nặng trên nửa tấn và chiếc trống lớn đặt trên giá gỗ do vua Bảo Đại ban tặng.[62] Tiếp đó đến phần sân trời, khoảng trống lộ thiên trang chí các hòn non bộ, tạo cho miếu vẻ sáng sủa, thoáng mát. Hai bên sân trời là hai nếp nhà dọc Đông, Tây. Một bia gắn vào tường nhà Đông ghi lại lần trùng tu miếu đầu tiên vào năm 1753.[63] Chính điện nằm ở hậu sảnh, nếp nhà sau cùng, là nơi đặt hương án thờ Quan Công. Tượng Quan Công cao gần 3 mét, mặt đỏ, mắt phượng, râu dài, mặc áo bào màu xanh lục, tọa trên mình con ngựa bạch đang quỳ. Hai bên là tượng Quan Bình và Châu Thương, hai người con nuôi, cũng là hai võ quan trung thành của Quan Công. Trước đây, miếu Quan Công là trung tâm tín ngưỡng của các thương gia Hội An, nơi chứng giám, tạo niềm tin cho các thương gia trong những cuộc giao kèo thương mại. Ngày nay, vào ngày 13 tháng 1 và 24 tháng 6 âm lịch hàng năm, lễ hội Chùa Ông được tổ chức thu hút rất đông tín đồ và dân chúng tới dự.[64]

Nhà thờ tộc[sửa | sửa mã nguồn]

In Hoi An, as in many other localities of Vietnam, the clans all have places to worship their ancestors, called clan shrines or family churches . This is a special form of housing architecture, of the large families who have established the village since the early days of Hoi An and passed it on to their descendants as a place of ancestor worship. The small families, the church they combined with the house of the patriarch originated from China. Descendants are later responsible for incense and architectural remodeling depending on the state of the house. [65] Most of their churches are concentrated in the middle between Phan Chu Trinh and Le Loi streets, a few are scattered on Nguyen Thi Minh Khai street or right behind the townhouses on Tran Phu street. [66]The earliest ethnic churches are mostly of overseas Chinese, in the early 17th century, the number dating back to the 18th century accounts for only a small part. [65] Unlike the ethnic churches in the countryside, the family church in Hoi An often has an urban style. [67] Because it is a place of worship, the ethnic church is built in the form of a campus, has a tight layout and structure, including the garden, gate, fence, outbuildings… Many churches they live in. This has a very beautiful scale and architecture, such as the Tran family church, the Truong family church, the Nguyen family church or the Minh Huong Tien sage church. [68]

The Tran family church is located at 21 Le Loi street, built in the early 19th century. Like other clan houses in Hoi An, the church is located deep in a campus of about 1500 m², surrounded by high walls, front yard planted bonsai, flowers, fruit trees. The house has architecture influenced by China, Japan and Vietnam, built from precious wood, 3 compartments and 2 folds, pitched roof roofed with yin and yang tiles. The space in the house is divided into two parts, the main part is for worshiping, the secondary part is the residence of the patriarch and receiving guests. [69] The worship space has three doors, in which the right door is for women, the left is for men, the main door in the middle is for the elderly who have a role in them and is only open on holidays. On the altar, small boxes containing relics and biographies of the Tran family are arranged according to their rank in the clan. On holidays or anniversariescavalry, the patriarch will open these wooden boxes in memory of the deceased. Behind the throne, there is a high piece of land used to bury the knots of members of the clan when they were born. Also on this plot of land, behind is also a star fruit tree , symbolizing the attachment to the ancestral homeland of their descendants. [70]

Assembly Hall [ edit | edit source code ]

Fukien

One of the outstanding characteristics of the Chinese is that wherever they reside abroad, there are assembly halls and community products based on their compatriots. In Hoi An today, there are still 5 assembly halls corresponding to 5 large overseas Chinese populations here: Fujian, Chinese, Trieu Chau, Quynh Phu and Cantonese. These assembly halls are quite large, are located on Tran Phu street and have the main direction to the Thu Bon river. [71]In terms of form, the assembly halls in Hoi An were built according to the archetype of the assembly halls commonly found in other ancient cities. It is a whole including: a large front gate, followed by a large courtyard decorated with ornamental plants, mountains and two auxiliary houses of worshiping the Gods and Gods, then the communal house, where the rituals are conducted. , ending by the cathedral, the largest architecture of the whole. The halls are elaborately decorated with carved wooden frames, gilded with vermilion paint, and the roofs adorn the animals with glazed earthenware.colorful. Today, the assembly halls have been changed and repaired many times, but the wooden frame still retains many of the original elements. In addition to the function of maintaining community activities, the assembly hall also has another important function, which is belief. Depending on the religious customs of each community, the assembly hall takes the basis for worship. [72]

Of the five assembly halls in Hoi An, Fujian is the largest, located at 46 Tran Phu Street. The beginning, this place is just a temple roof paintings by Vietnamese people built in 1697 to worship Buddha . Over time, the temple was damaged and the Vietnamese could not afford to repair it. The Fujian merchants bought the temple in 1759 and after many restorations, in 1792 changed it to the Fujian Assembly Hall. [36] [73] The work has an architecture in the style of Tam, extending from Tran Phu street to Phan Chu Trinh street, in the following order: the three-way gate , the courtyard, two rows of East-West houses, the main hall, the backyard and the courtyard. post-electricity. The three-way gate of the new assembly hall was built during a major restoration in the early 1970s. [74]The gate has a spectacular roof system consisting of 7 curving green glazed tiled roofs, arranged lower and lower, symmetrically between the two sides. At the top of the gate, under the upper roof, is a white board with three red Chinese characters “Kim Son Tu”. Under the roof, there is also a blue stone sign with four red Chinese characters “Fujian Assembly Hall”. Two walls on either side of the three-way gate separate the inner courtyard of the assembly hall from the outer courtyard. The main hall of the assembly hall is decorated with vermilion pillars , hanging wooden urns praising Thien Hau Thanh Mau . The main shrine worships the statue of Bodhisattva Avalokitesvara sitting in meditation , in front of which is a candlebig incense. On both sides of the altar, you will see two statues of Thien Ly Nhan and Thuong Phong Nhi, two auxiliary gods for Thien Hau to help Chinese merchant ships in distress. [75] Next to the main hall, cross the backyard to the back hall. Here, the middle part is dedicated to worshiping six generals of the Ming Dynasty from Fujian, on the left is the altar to worship 3 princesses Sanh Thai and 12 midwives, on the right is the altar to worship God Tai . In addition, the back hall also worships those who contributed money to build the assembly hall and Kim Son pagoda. [76] Every year, on the 23rd day of the 3rd lunar month , the festival of Thien Hau Thanh Mau is organized by the Chinese with many activities such as lion dance , fireworks sale, auspicious feast, asking for fortune, attracting many people. Hoi An and other regions attended.[77]

Assembly halls in Hoi An [78]
Chinese names Vietnamese names Location Owner Start-up
Fujian Kim An Temple 46 Tran Phu Fujian 1792
China or Yang Shang Five Bang Temple 64 Tran Phu Five Bangs 1741
Chaozhou Ong Bon Temple 92 Nguyen Duy Hieu Chaozhou 1845
Quynh Phu Hainan Temple 10 Tran Phu Hainan 1875
Guangdong Quang Trieu Pagoda 176 Tran Phu Guangdong 1885

Covered Bridge [ edit | edit source code ]

Japanese BridgeHoi An Wharf

The only remaining ancient bridge in Hoi An today is the Covered Bridge , also known as the Japanese Bridge. This bridge is about 18 meters long , crossing a small creek flowing into the Thu Bon River , connecting Tran Phu Street with Nguyen Thi Minh Khai Street . [79] According to legend, the Japanese Bridge was built in 1593, but there is no exact basis to confirm this. In Thien Nam Tu Chi Road Map in 1630 , the name “Hoi An Kieu” and the image of a bridge with a roof appeared. [16] Monk Thich Dai San also mentioned the name “Japanese Kieu” in the book Overseas Historyin 1695 . [80] After many restorations, the shape of the bridge has been changed a lot, today’s appearance was formed during the repairs in the 18th and 19th centuries . [81] The decorations with glazed porcelain pieces or porcelain plates are typical expressions of the architecture of the Nguyen Dynasty. [82]

The Japanese bridge has a rather unique architecture, the upper house and the lower house are the bridge, a type of architecture that is quite common in tropical Asian countries. [79] Despite the name Japanese Bridge, after many restorations, it is hard to find any traces of Japanese architecture on this bridge. [82] From the outside, the bridge stands out thanks to its soft curved roof system supported by a wooden structure system , and the foundation is made of stone pillar arches . The face of the rainbow looks like a rainbow, it is paved with planks to make a passageway, on both sides there are small wooden pedestals, formerly used as a place to display goods and trade. Attached to the bridge upstream is a templevery small to worship Huyen Thien the Great, built after the bridge about half a century. The temple is located right next to the bridge, separated by a layer of wooden walls and a set of “upper and lower” doors, creating a separate space. On the temple door hangs a red diaphragm with three words “Lai Vien Kieu” given by Lord Nguyen Phuc Chu in 1719 with the meaning of the bridge of friends from far away. At each end of the bridge, on both sides of the path, there are two animal statues, one side is a monkey statue , the other side is a dog statue . The statues are all carved with jackfruit wood in the adoration position, in front of each statue there is a bowl of incense . [79] According to legend, the sea monster Mamazu had its head in Japan and its tail in the Indian Oceanand body, in Vietnam, every time you move, it will cause earthquakes, natural disasters, floods. So the Japanese built a bridge with statues of Monkey God and Dog God to calm the monster. Another theory is that monkey and dog statues appear on the bridge because this work was started in the year of the Monkey, and completed in the year of the Dog. This small bridge has become a symbol of Hoi An city today. [seventy three]Culture [ edit | edit source code ]

So với các đô thị khác của Việt Nam, Hội An có những đặc điểm lịch sử và địa lý nhân văn rất riêng biệt. Mảnh đất nơi đây có một lịch sử lâu đời và là nơi gặp gỡ, giao thoa của nhiều nền văn hóa. Đặc điểm đầu tiên có thể nhận thấy ở văn hóa Hội An chính là tính đa dạng. Những người Việt vào cư trú ở Hội An từ cuối thế kỷ 15 chung sống hòa bình với bộ phận dân cư người Chăm vẫn định cư rất lâu từ trước đó. Khi Hội An trở thành thương cảng quốc tế sầm uất, nơi đây đã tiếp nhận nhiều cư dân mới đến từ nhiều nền văn hóa khác nhau.[83] Điều này giúp cho Hội An có được một nền văn hóa nhiều tầng, nhiều lớp và đa dạng, thể hiện ở tất cả các hình thái văn hóa phi vật thể như phong tục tập quán, văn học dân gian, ẩm thực, lễ hội… Một đặc điểm nổi bật khác của văn hóa Hội An là tính bình dân. Khác với Huế, kinh thành cũ, nơi nhiều di sản văn hóa mang tính chất cung đình, hệ thống di tích của Hội An là những thiết chế văn hóa cổ truyền của cuộc sống đời thường.[84] Ở Hội An, văn hóa phi vật thể vẫn đang sống và tương thích với hình thái văn hóa vật thể.[85]

Xem:  Cách tết tóc đẹp cho mùa hè. Top 14 Kiểu tóc đẹp

Tín ngưỡng[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Hội An, bên cạnh tục thờ cúng gia tiên, những người dân còn có tục thờ Ngũ tự gia đường. Theo quan niệm ở đây, nước có vua nhà có chủ, thần chủ nhà chính là Ngũ tự gia đường. Phần đông ý kiến cho rằng Ngũ tự gia đường là năm vị thần trong coi cai quản và sắp đặt vận mệnh cho một gia đình, gồm thần Bếp, thần Giếng, thần Cổng, Tiên sư bổn mạng và Cửu thiên huyền. Với một số ít người Hoa, Ngũ tự gia đường gồm năm vị thần Táo quân, Môn thần, Hộ thần, Tỉnh thần và Trung Lưu thần. Khám thờ Ngũ tự gia đường được đặt trang trọng ngay giữa nhà, trên bàn thờ gia tiên.[86] Thực tế, trong các ngôi nhà ở Hội An, ngoài khám thờ chung, mỗi vị thần trong Ngũ tự gia đường lại có nơi thắp hương riêng, như thần Táo được thờ ở bếp, thần Cổng được thắp nhang nơi cổng, thần Giếng có ban thờ gần giếng… Đặc biệt, trong các gia đình người Hoa, thay vì thờ Táo Quân trong bếp, họ lại đặt khám thờ Táo Quân ở không gian sân trời, bên cạnh khám thờ thần Thiên quan tứ phước.[86] Về tôn giáo, có thể thấy ở Hội An tồn tại nhiều tôn giáo khác nhau như Phật giáo, Công giáo Rôma, Tin Lành, Cao Đài… nhưng Phật giáo vẫn chiếm đa số nhất. Nhiều gia đình ở Hội An không theo Phật giáo những vẫn thờ Phật và ăn chay. Những vị phật được thờ chủ yếu là Phật Bà Quan Âm và Thích Ca Mâu Ni, một số gia đình còn thờ Tam thế phật, gồm Thích Ca Mâu Ni và hai vị Quân Âm Bồ Tát, Thế Chí Bồ Tát. Trong mỗi nhà, khám thờ Phật được đặt nơi trang nghiêm, thanh tịnh, thường cao hơn ban thờ gia tiên một bậc. Thậm chí có những gia đình dành riêng một gian rộng để thờ Phật và làm nơi tụng niệm.[87]

Một điểm khác biệt nữa trong tín ngưỡng ở Hội An là tục thờ Quan Công, tuy ít gặp ở nông thôn nhưng đặc biệt phổ biến ở thành thị.[87] Tuy hệ thống thần thánh được tôn thờ ở Hội An rất đa dạng và phong phú, nhưng Quan Công lại được xem như vị thánh linh thiêng nhất. Miếu thờ Quan Công được xây dựng ngay trong trung tâm khu phố cổ, trở thành một trung tâm tín ngưỡng thiêng liêng, quanh năm hương khói nghi ngút. Trong các gia đình, từ xa xưa người Hội An đã có quan niệm thờ Quan Công như thờ một vị thần hộ mạng, bảo hộ cho sự bình an của gia đình. Trên khám thờ Quan Công thường được đặt bộ tượng hoặc tranh Quan Công, Quan Bình cùng Châu Thương.[88] Trong các di tích của người Hoa, đặc biệt là các hội quán, những vị thần thánh được thờ tùy thuộc vào tín ngưỡng riêng của cộng đồng. Tại Hội quán Phước Kiến, những người Hoa thờ Thiên Hậu Thánh mẫu, vị thần có nguồn gốc Phước Kiến, cùng Lục tánh vương gia, sáu vị trung thần của nhà Minh. Những người Hải Nam lập Hội quán Quỳnh Phủ thờ 108 vị Chiêu Ứng. Họ là 108 người dân Hải Nam đi buôn bán trên biển, không may bị nạn, sau được triều Nguyễn sắc phong làm Chiêu Ứng Công và ban thờ cúng.[89] Người Triều Châu có Hội quán Triều Châu thờ vị thần chém sóng cứu nạn thuyền buôn trên biển Phục Ba Tướng quân. Ở Hội An còn có những hình thức tín ngưỡng khác như thờ bà cô, ông mãnh, vô danh vô vị, thờ đá bùa, đá thạch cảm đương.[90]

Lễ hội truyền thống[sửa | sửa mã nguồn]

Buổi tối ngày 11 tháng 5 năm 2006 ở Hội An, tức 14 tháng 7 âm lịch

Ở Hội An hiện nay vẫn gìn giữ được nhiều loại hình lễ hội truyền thống, như lễ hội kính ngưỡng thành hoàng làng, lễ hội tưởng niệm những vị tổ sư ngành nghề, lễ hội kỷ niệm các bậc thánh nhân, lễ hội tín ngưỡng tôn giáo. Quan trọng nhất chính là những lễ hội đình ở các làng ven đô thị. Thông thường, mỗi làng đều có một ngôi đình để thờ thành hoàng và các vị tiền hiên. Mỗi năm, thường vào đầu mùa xuân, các làng lại mở lễ hội để kính ngưỡng vị thánh của làng mình và tưởng nhớ công lao các vị tiên hiền. Công việc này thường do những người cao niên phụ trách, cứ đến kỳ hạn họ bầu ra một ban tế lễ và dân làng cùng đóng góp kinh phí, tham gia vệ sinh, trang hoàng đình miếu. Lễ cúng thường diễn ra trong hai ngày, ngày thứ nhất chỉ làm lễ cáo yết, ngày thứ hai mới là ngày tế chính thức.[91] Vào dịp rằm tháng giêng và rằm tháng bảy hàng năm, những người dân vùng Hội An tổ chức lễ hội Long Chu tại các đình làng. Dịp tổ chức lễ hội chính là hai thời điểm chuyển từ mùa mưa sang mùa khô và ngược lại, khoảng thời gian dịch bệnh thường xảy ra. Trong suy nghĩ của dân gian, các dịch bệnh cho những thế lực thiên nhiên xấu xa mang tới, vì vậy tất cả mọi người trong làng, không trừ một ai, đều tham gia vào lễ hội. Vào ngày lễ chính, toàn thể dân làng rước Long Chu, một chiếc thuyền làm theo hình rồng, về đình và người chủ bái cùng thầy phù thủy sẽ khai quan điểm nhãn cho Long Chu. Sau nhiều nghi lễ cúng tế, buổi tối các tráng đinh đưa Long Chu đến những nơi cần yểm và sau đó mang đốt rồi thả ra biển.[92]

Tại các làng chài ven sông, biển của Hội An, đua ghe là một sinh hoạt văn hóa không thể thiếu, thường diễn ra trong dịp mừng xuân từ mùng 2 đến mùng 7 tháng giêng, cầu ngư vào rằm tháng hai và cầu an vào khoảng trung tuần tháng ba âm lịch. Theo quan niệm dân gian, đua ghe là dịp làm vui lòng các thánh thần thượng sơn hạ thủy và những đấng khuất mặt đã phù hộ cho thôn xóm được bình yên. Trước mỗi cuộc đua ghe, các làng xã náo nhiệt chuẩn bị, tập luyện. Chiến thắng trong các cuộc đua là niềm tự hào của dân làng và mang ý nghĩa mang lại một vận may trong mùa màng sắp tới. Trước đây, trong hội đua ghe, các yếu tố lễ, hội đều được xem trọng, nhưng ngày nay, phần hội thường nổi trội hơn và đọng lại lâu trong tâm thức mọi người.[93] Cũng vào dịp cầu ngư hàng năm, dân cư các làng chài Hội An còn tổ chức lễ tế cá Ông, tri ân cá Ông đã cứu giúp những người hoạn nạn trên biển. Trong những lễ tế này, thường có hoạt động hát bả trạo, một loại hình văn nghệ dân gian độc đáo, miêu tả lại cảnh sinh hoạt, lao động trên sông nước. Và giống như các địa phương khác ở ven biển miền Trung, mỗi dịp cá Ông chết trôi dạt vào bờ, ngư dân thường tổ chức chôn cất, cúng tế rất linh đình.[93]

Từ năm 1998, chính quyền Hội An bắt đầu tổ chức Lễ hội đêm rằm phố cổ vào mỗi đêm 14 âm lịch hàng tháng. Ý tưởng độc đáo này xuất phát từ mong ước của kiến trúc sư Ba Lan Kazimier Kwiatkowski, người đã dành nhiều công sức trong việc bảo tồn hai di sản Hội An và Mỹ Sơn. Trong dịp lễ hội, thời gian từ 17 đến 22 giờ, tất cả các ngôi nhà, hàng quán, tiệm ăn đều tắt điện, toàn bộ khu phố chìm trong ánh sáng của trăng rằm và những ngọn đèn lồng. Trên các con phố, những phương tiện giao thông tạm thời bị cấm, chỉ dành cho người đi bộ. Tại các điểm di tích, nhiều hoạt động ca nhạc, trò chơi dân gian, thi đấu cờ tướng, đành bài chòi, thả hoa đăng… được tổ chức. Khi các ngày lễ lớn khác trùng vào đêm rằm, các hoạt động văn hóa sẽ phong phú hơn với những vũ hội hóa trang, vịnh thơ Đường, múa lân… Khách du lịch đến Hội An vào dịp đêm rằm sẽ được sống trong một không gian đô thị từ những thế kỷ trước.[94]

Âm nhạc, diễn xướng và trò chơi dân gian[sửa | sửa mã nguồn]

Hát bài chòi ở Hội An

Những hình thức diễn xướng, trò chơi dân gian ở Hội An kết tinh từ quá trình lao động của cư dân địa phương, ngày nay vẫn được gìn giữ và là một phần quan trọng trong đời sống tinh thần nơi đây. Có thể kể đến những điệu hát hò khoan, các điệu hò giựt chì, hò kéo neo, những điệu lý, vè, các hình thức hát tuồng, bả trạo, hô thai, hô bài chòi… Hội An còn có truyền thống về diễn tấu cổ nhạc trong các dịp hội hè, tang ma hiếu hỉ, và truyền thống ca nhạc tài tử với những nghệ nhân khá nổi tiếng.[95] Những người dân ở đây cũng có rất nhiều thú chơi, tiêu biểu có thể kể đến trò bài tới, trò đỗ xăm hường, trò thai đề xổ cử nhân, trò thả thơ, trò chơi thư pháp.

Bài chòi, một thú giải trí đậm nét văn hóa của người dân xứ Quảng và cả vùng duyên hải miền Trung, vẫn được diễn đều đặn vào mỗi tối 14 âm lịch hàng tháng trên khuôn viên nhỏ ở góc đường Nguyễn Thái Học và Bạch Đằng. Nếu theo đúng thể thức, trong trò chơi bài chòi sẽ có khoảng 10 chiếc chòi được dựng, mỗi chòi sẽ được phát ba quân bài trên đó ghi những chữ khác nhau. Bộ bài này được gọi là bộ bài tới, in theo lối mộc bản trên giấy gió, phủ qua một lớp điệp rồi bồi thêm giấy cứng, mặt sau phết màu đỏ, xanh lá cây hoặc xanh xám.[96] Ở chòi trung tâm có một ống thẻ đựng bài cái. Khi tiếng trống hội đã dứt, những người chơi đã vào chòi con, tay cầm quân bài, anh hiệu sẽ bước đến ống thẻ, xóc đi xóc lại rồi rút ra một quân bài. Mỗi lần rút, anh hiệu lại hô lên những tiếng, ví dụ như “ông ầm”, “tam quăn”, “tứ cẳng”… chòi nào có đúng quân bài đó sẽ gõ ba tiếng mõ và nhận được một lá cờ từ anh lính lệ. Khi chòi nào nhận được đủ ba cờ thì sẽ hô “Tới”. Một hồi mõ kép dài, ở chòi trung tâm tiếng trống tum, trống cán sẽ vang lên.[96] Trong trò bài chòi, tiếng hô của anh hiệu là cốt lõi của trò chơi. Anh hiệu phải là người thuộc những bài truyền khẩu dân gian cộng với tài ứng tác, để nội dung cuộc chơi luôn bất ngờ. Thay vì chỉ hô tên con bài, anh hiệu có thể hô một hay nhiều câu lục bát ứng tác bát có liên quan đến con bài.[97] Hô bài chòi là một hình thức diễn xướng mang đậm nét dân dã, điểm hấp dẫn chính của trò chơi.[96]

Một hình thức diễn xướng dân gian có vai trò rất lớn trong đời sống tinh thần, tâm linh của cư dân vùng biển Hội An là hát bả trạo.[98] Trình tự một buổi biểu diễn bả trạo có kết cấu như một hoạt cảnh thể hiện những diễn biến từ khi con thuyền ra khơi cho đến khi cập bến an toàn.[99] Bả trạo thuộc thể loại dân ca lễ nghi, có sự kết hợp với hình thức diễn tuồng, một loại hình sân khấu rất được người dân Quảng Nam yêu thích. Ngoài lối múa hát chèo thuyền đã được nghệ thuật hóa, lối hát trong bả trạo còn có lối xướng, hô và trình diễn các điệu dân ca như hò, lý, ngâm, hát… được thể hiện qua tài năng của các nghệ nhân tạo nên sự hấp dẫn với người xem.[98] Trong lễ hội nghinh Ông, hát bả trạo thể hiện sự thành kính, thương tiếc cá Ông “Ngọc Lân Nam Hải”, vị thần cứu giúp ngư dân trong cơn hoạn nạn trên biển, đồng thời cũng thể hiện mong ước bình yên trước cảnh sóng nước mênh mông, bão tố rập rình. Những cư dân Hội An còn dùng diễn xướng bả trạo làm nghi thức trong tang lễ những người dân ven biển, than khóc số phận người xấu số, ca ngợi công đức người đã khuất.[98]

Ẩm thực dân gian[sửa | sửa mã nguồn]

Một nhà hàng trong phố cổ

Với vị trí vùng cửa sông ven biển, nơi gặp nhau của các tuyến giao thông đường thủy và cũng là nơi hội tụ về kinh tế, văn hóa liên tục trong nhiều thế kỷ, Hội An có được một nền ẩm thực đa dạng và mang những sắc thái riêng biệt.[100] Vùng đất nơi đây không có được những cách đồng rộng lớn như đồng bằng sông Cửu Long hay đồng bằng sông Hồng, nhưng bù lại Hội An có các cồn bãi ven sông màu mỡ và những thửa ruộng hẹp giàu phù sa. Môi trường sông biển này đã ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống hàng ngày, phong tục tập quán, lối sống của cư dân địa phương, trong đó có thói quen ẩm thực.[101] Trong bữa ăn hàng ngày của người dân Hội An, thủy hải sản luôn chiếm một phần lớn, còn ngoài chợ, số lượng tôm cua cá được tiêu thụ thường gấp đôi số lượng thịt.[100] Cá trở thành một món ăn không thể thiếu trong khẩu phần hàng ngày của dân cư Hội An và người ta quen gọi khu vực bày bán thức ăn là chợ cá.[102] Ngày nay tại Hội An vẫn lưu truyền một số thói quen, tập quán ẩm thực của một số gia đình người Hoa. Vào những dịp lễ tết, các dịp hôn hỉ, họ thường nấu một số món ăn riêng như bún xào Phước Kiến, cơm Dương Châu, kim tiền kê, phạch xồi… để cùng nhau thưởng thức, cũng là dịp nhớ lại nguồn gốc dân tộc. Những người Hoa đã góp phần đáng kể làm nên sự phong phú của ẩm thực Hội An, cũng là tác giả của nhiều món đặc sản chỉ có ở đây.[103]

Một trong những món ăn tiêu biểu của ẩm thực Hội An là món cao lầu. Nguồn gốc món ăn, cùng như cái tên Cao lầu, ngày nay rất khó xác định. Những Hoa kiều ở Hội An không công nhận đây là món ăn của họ. Một số nhà nghiên cứu Nhật Bản cho rằng cao lầu có nét giống món mỳ ở vùng Ise, nhưng trên thực tế hương vị và cách chế biến của cao lâu khác món mỳ này.[104] Sợi cao lầu được chế biến rất công phu. Người ta ngâm gạo và nước trong được lọc kỹ, sau đó xay thành nước bột. Bột được dùng vải bòng nhiều lần để khô, dẻo rồi cán thành miếng vừa cỡ và cắt thành con mỳ. Cao lầu không cần nước lèo, nước nhân, thay vào đó là thịt xíu, nước xíu, tép mỡ và để bớt béo người ta dùng kèm với giá trụng, rau sống. Khi bán, người ta trần mỳ, giá đổ ra bát và thêm mấy lát thịt xíu hoặc thịt ba chỉ, đổ tép mỡ, thêm một muỗng mỡ heo rán sẵn ở lò bên.[105] Trước đây ở Hội An có các tiệm cao lầu ông Cảnh, Năm Cơ từng đi vào câu ca dao: Hội An có Hạ Uy Di. Chùa Cầu, Âm Bổn, cao lầu Năm Cơ.[106]

Bên cạnh những món đặc sản mang tính phố thị như cao lầu, hoành thánh, bánh bao, bánh vạc… Hội An còn có nhiều món ăn dân dã hấp dẫn như bánh bèo, hến trộn, bánh xèo, bánh tráng… và đặc biệt là mì Quảng. Đúng như tên gọi, món mỳ này có nguồn gốc xuất phát từ Quảng Nam. Mỳ Quảng cũng như phở, bún đều được chế biến từ gạo nhưng lại có sắc thái và hương vị rất riêng biệt.[107] Để làm mỳ, người ta dùng gạo tốt ngâm nước cho mềm, đem xay thành bột nước mịn rồi pha thêm phèn sa để sợi mỳ giòn, cứng, đem tráng thành lá mỳ. Khi mỳ chín được vớt ra đặt lên vỉ cho nguội, thoa sơ một lớp mỡ cho mỳ khỏi dính rồi cắt thành sợi. Nước nhân mỳ được làm bằng tôm, thịt lợn hoặc thịt gà, có khi được làm bằng cá lóc, thịt bò. Nước nhân mỳ không cần nhiều màu mè, không nhiều gia vị mà phải trong và có vị ngọt.[108] Ở Hội An, mỳ Quảng được bán khắp nơi, từ các quán ăn thành thị đến những hàng quán ở thôn quê, đặc biệt là những quán mỳ trên hè phố.[109]

Bánh bao, bánh vạc là một trong những món ăn sang trọng, ngon và lạ của phố cổ Hội An. Bánh bao, bánh vạc thường đi đôi với nhau, cả hai đều được làm bằng nguyên liệu chính là bột gạo. Ngay từ khâu chọn gạo đã thấy bánh bao bánh vạc là loại bánh kén chọn nguyên liệu. Bột gạo làm bánh phải lấy từ loại gạo thơm ngon, mua về sàng sảy kỹ rồi cho vào nước và xay thành bột.[110] Nước dùng để xay phải trong, không nhiễm mặn, nhiễm phèn, thường là nước từ giếng cổ Bá Lễ. Sau nhiều lần chắt lọc, bột được vê lại và để trong một chiếc thau sạch. Cùng với việc chế biến bột, người thợ tiến hành làm nhân bánh, gia chế hành, khử vàng hành dùng trải trên bánh trước khi ăn. Nhân bánh được chia làm hai loại, nhân bánh bao và nhân bánh vạc. Nhân bánh bao chủ yếu gồm tôm và gia vị được pha trộn và giã nhiều lần trong cối. Nhân bánh vạc hơi khác và phong phú hơn, ngoài chả tôm còn có giá hột, nấm mèo, măng tre, thịt heo thái hình hạt lựu, lá hành. Tất cả hỗn hợp nhân này được cho vào xoong và xào với muối, mắm.[111] Bắt đầu vào công đoạn chế biến bánh, cả bánh bao và bánh vạc được làm song song, thường có từ 2 đến 4 thợ làm bánh. Bánh bao được làm với lớp bột thật mỏng, cách điệu như những cánh hoa hồng. Bánh vạc lớn hơn bánh bao, trông giống hình quai vạc.[112] Khi làm xong, bánh được chưng cách thủy trên bếp, khoảng chừng 10 đến 15 phút là chín. Lúc ăn, hai loại bánh được dùng chung với nhau, nhưng thực khách có thể chọn bánh bao bánh vạc tùy thích. Những chiếc bánh được bày cầu kỳ, bánh bao xếp ở giữa và bên trên, bánh vạc xếp xung quanh và bên dưới. Bánh xếp xong được trải lớp hành phi vàng, kế đó rưới thêm một muỗng dầu phụng khử chín.[113] Bánh bao, bánh vạc được dùng với nước chấm riêng, pha chế từ nước mắm, có vị ngọt của thịt tôm, có vị chua của chanh và vị cay nồng của những lát ớt vàng được xắt khéo léo.[114]

Không chỉ có những món ăn ngon, phong phú, các hàng quán ở Hội An còn có cách bài trí, phục vụ mang những nét riêng. Những nhà hàng trong khu phố cổ thường treo một vài bức tranh xưa, xung quanh trang trí chậu hoa, cây cảnh hoặc đồ mỹ nghệ. Một số hàng quán còn có thêm hồ cá, hòn non bộ… tạo sự thư giãn, thoải mái cho thực khách. Tên những nhà hàng cũng mang tính truyền thống, được kế thừa từ đời này sang đời khác.[115] Bên cạnh ẩm thực truyền thống, một số món ăn, thói quen xuất phát từ Pháp, Nhật và phương Tây vẫn được duy trì và phát triển, góp phần làm phong phú nếp ẩm thực của Hội An, phục vụ nhu cầu đa dạng của những du khách.[103]Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Khu phố cổ Hà Nội
  • Phố Hiến
  • Cảng thị cổ Thanh Hà
  • Phố cổ Thành Nam
  • Phố cổ Đồng Văn

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nguyễn Chí Trung, tr. 8
  2. ^ Tạ Thị Hoàng Vân, tr. 207
  3. ^ Tạ Thị Hoàng Vân, tr. 206
  4. ^ Đặng Việt Ngoạn, tr. 190
  5. ^ Đặng Việt Ngoạn, tr. 191
  6. ^ Fukukawa Yuichi, tr. 1
  7. ^ Hoàng Minh Nhân, tr. 393
  8. ^ Fukukawa Yuichi, tr. 19
  9. a b c Lê Tuấn Anh, tr. 116
  10. ^ Fukukawa Yuichi, tr. 21
  11. a b Fukukawa Yuichi, tr. 22
  12. ^ Fukukawa Yuichi, tr. 23
  13. a b Lê Tuấn Anh, tr. 117
  14. a b c d e Fukukawa Yuichi, tr. 24
  15. ^ Hoàng Minh Nhân, tr. 399
  16. a b Fukukawa Yuichi, tr. 25
  17. ^ Nguyễn Phước Tương, tr. 27
  18. ^ Nguyễn Văn Xuân, tr. 22
  19. ^ Nguyễn Văn Xuân, tr. 20
  20. ^ Nguyễn Văn Xuân, tr. 24
  21. a b Fukukawa Yuichi, tr. 27
  22. ^ Nguyễn Phước Tương, tr. 26
  23. ^ Fukukawa Yuichi, tr. 28
  24. ^ Nguyễn Phước Tương, tr. 31
  25. a b Nguyễn Văn Xuân, tr. 36
  26. a b Fukukawa Yuichi, tr. 29
  27. ^ Nguyễn Phước Tương, tr. 32
  28. ^ Nguyễn Phước Tương, tr. 33
  29. a b Nguyễn Văn Xuân, tr. 38
  30. ^ Fukukawa Yuichi, tr. 30
  31. ^ Nguyễn Thế Thiên Trang, tr. 15
  32. ^ Lê Tuấn Anh, tr. 119
  33. a b Nguyễn Văn Xuân, tr. 46
  34. a b Fukukawa Yuichi, tr. 7
  35. ^ Fukukawa Yuichi, tr. 12
  36. a b Fukukawa Yuichi, tr. 9
  37. ^ Nguyễn Chí Trung, tr. 22
  38. ^ Nguyễn Chí Trung, tr. 24 và 26
  39. ^ Fukukawa Yuichi, tr. 15
  40. a b Tạ Thị Hoàng Vân, tr. 136
  41. a b Tạ Thị Hoàng Vân, tr. 141
  42. ^ Tạ Thị Hoàng Vân, tr. 144
  43. a b Fukukawa Yuichi, tr. 63
  44. ^ Tạ Thị Hoàng Vân, tr. 143
  45. ^ Tạ Thị Hoàng Vân, tr. 138
  46. ^ Tạ Thị Hoàng Vân, tr. 137
  47. ^ Fukukawa Yuichi, tr. 135
  48. ^ Fukukawa Yuichi, tr. 136
  49. ^ Nguyễn Chí Trung, tr. 12
  50. ^ Tạ Thị Hoàng Vân, tr. 102
  51. a b Tạ Thị Hoàng Vân, tr. 135
  52. ^ Tạ Thị Hoàng Vân, tr. 130
  53. ^ Nguyễn Thế Thiên Trang, tr. 18
  54. ^ Tạ Thị Hoàng Vân, tr. 66
  55. ^ Nguyễn Thế Thiên Trang, tr. 44
  56. ^ Nguyễn Chí Trung, tr. 32
  57. ^ Đặng Việt Ngoạn, tr. 344
  58. ^ Tạ Thị Hoàng Vân, tr. 68
  59. ^ Nguyễn Phước Tương, tr. 218
  60. ^ Tạ Thị Hoàng Vân, tr. 69
  61. ^ Lê Tuấn Anh, tr. 138
  62. ^ Lê Tuấn Anh, tr. 139
  63. ^ Nguyễn Phước Tương, tr. 207
  64. ^ Lê Tuấn Anh, tr. 140
  65. a b Tạ Thị Hoàng Vân, tr. 75
  66. ^ Fukukawa Yuichi, tr. 11
  67. ^ Nguyễn Văn Xuân, tr. 72
  68. ^ Tạ Thị Hoàng Vân, tr. 76
  69. ^ Lê Tuấn Anh, tr. 134
  70. ^ Lê Tuấn Anh, tr. 135
  71. ^ Tạ Thị Hoàng Vân, tr. 112 và 114
  72. ^ Đặng Việt Ngoạn, tr. 346
  73. a b Lê Tuấn Anh, tr. 122
  74. ^ Nguyễn Phước Tương, tr. 226
  75. ^ Lê Tuấn Anh, tr. 123
  76. ^ Lê Tuấn Anh, tr. 124
  77. ^ Nguyễn Phước Tương, tr. 236
  78. ^ Tạ Thị Hoàng Vân, tr. 113
  79. a b c Lê Tuấn Anh, tr. 121
  80. ^ Nguyễn Quốc Hùng, tr. 55
  81. ^ Lê Tuấn Anh, tr. 120
  82. a b Fukukawa Yuichi, tr. 14
  83. ^ Bùi Quang Thắng, tr. 102
  84. ^ Bùi Quang Thắng, tr. 103
  85. ^ Bùi Quang Thắng, tr. 104
  86. a b Bùi Quang Thắng, tr. 38
  87. a b Bùi Quang Thắng, tr. 39
  88. ^ Bùi Quang Thắng, tr. 40
  89. ^ Bùi Quang Thắng, tr. 41
  90. ^ Bùi Quang Thắng, tr. 42
  91. ^ Bùi Quang Thắng, tr. 34
  92. ^ Nguyễn Thế Thiên Trang, tr. 26
  93. a b Nguyễn Thế Thiên Trang, tr. 27
  94. ^   Nguyễn Thế Thiên Trang, tr 25
  95. ^   Bùi Quang Thắng, tr 57
  96. ^   a   b   c   Bùi Quang Thắng, tr 58
  97. ^   Bùi Quang Thắng, tr 60
  98. ^   a   b   c   Bùi Quang Thắng, tr 63
  99. ^   Bùi Quang Thắng, tr 62
  100. ^   a   b   Bùi Quang Thắng, tr 76
  101. ^   Trần Văn Ơn, tr 11
  102. ^   Tran Van An, S. Twelfth
  103. ^   a   b   Bùi Quang Thắng, tr 80
  104. ^   Trần Văn Ơn, tr. 30
  105. ^   Trần Văn Ơn, trang 31
  106. ^   Trần Văn Ơn, tr 32
  107. ^   Trần Văn Ơn, trang 26
  108. ^   Trần Văn Ơn, trang 27
  109. ^   Trần Văn Ơn, trang 28
  110. ^   Trần Văn Ơn, trang 103
  111. ^   Trần Văn Ơn, trang 104
  112. ^   Trần Văn Ơn, trang 105
  113. ^   Trần Văn Ơn, trang 106
  114. ^   Trần Văn Ơn, trang 107
  115. ^   Trần Văn Ơn, trang 138 và 139

Thư mục [sửa | Chỉnh sửa mã nguồn]

  • Nguyễn Phước Tường (2004),   Hội An – Di sản thế giới  , Thành phố Hồ Chí Minh: NXB Văn hóa Nghệ thuật
  • Hoàng Minh Nhân (2001),   Hội An – Di sản thế giới  , Hà Nội: NXB Thanh Niên
  • Nguyễn Văn Xuân (2008),   Hội An  , Đà Nẵng: Da Nang Verlag
  • Nguyễn Chí Trung (2007),   Di tích và Danh thắng Hội An  , Quảng Nam: Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di tích Cố đô Hội An
  • Lê Tuấn Anh (2008), Các di sản thế giới ở Việt Nam  , Hà Nội: NXB   Văn hóa Thông tin
  • Nguyễn Thế Thiên Trang (2001),   Hội An – Di sản thế giới  , Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Trẻ
  • Đặng Viết Ngoạn (1991),   Phố cổ Hội An  , Hà Nội: NXB Khoa học xã hội
  • Nguyễn Quốc Hùng (1995),   Phố cổ Hội An và giao lưu văn hóa ở Việt Nam  , Đà Nẵng: NXB Đà Nẵng
  • Bùi Quang Thắng (2005),   Văn hóa phi vật thể ở Hội An  , Hà Nội: NXB Thế giới
  • Trần Văn Ơn (2000),   Văn hóa ẩm thực phố cổ Hội An  , Hà Nội: NXB Khoa học xã hội
  • Tạ Thị Hoàng Vân (2007),   Di tích kiến ​​trúc Hội An trong tiến trình lịch sử  , Hà Nội: Đại học Quốc gia Hà Nội
  • Fukukawa-Yuichi; Nhiều tác giả (2006), “Kiến trúc Phố cổ Hội An – Việt Nam”,   Viện Nghiên cứu Văn hóa Quốc tế, Trường Đại học Nữ Chiêu Hòa  , Hà Nội: Nhà xuất bản Thế giới

Liên kết ngoài [sửa | Chỉnh sửa mã nguồn]

  •  Truyền thông về Hội An tại Wikimedia Commons
  • Di sản Thế giới Hội An – Địa điểm của Trung tâm Văn hóa và Thể thao Hội An
  • Trang thông tin điện tử chính thức của Ủy ban nhân dân thành phố Hội An
hiện là Di sản Thế giới ở Việt Nam
Hiện là di tích quốc gia đặc biệt của Việt Nam
hiện có 21 khu du lịch quốc gia của Việt Nam
du lịch việt nam hiện nay
tổng quan về Việt Nam hiện nay
  • Cổng thông tin việt nam
  • Cổng thông tin du lịch
  • Cổng thông tin Châu Á

Loại:

  • Di sản thế giới ở Việt Nam
  • Di tích quốc gia đặc biệt
  • Nhà phố thương mại
  • Hội an
  • Du lịch Quảng Nam
  • Thương cảng cũ của Việt Nam
  • Di tích quốc gia việt nam
  • Phố cổ việt nam
  • Khu du lịch việt nam
  • Di sản của nhà nước quân chủ Việt Nam
  • Kiến trúc pháp ở quảng nam
  • Lịch sử Nam Kỳ

Các danh mục ẩn:

  • Tọa độ trên Wikidata
  • Kiểm tra tính nhất quán với 0 phần tử
  • Các mục đã chọn
  • Bài hát Việt Nam chọn lọc


Video Phố cổ hội an ở đâu ???

Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết Phố cổ hội an ở đâu ???! OVS hi vọng đã mang đến thông tin hữu ích cho bạn. Xem thêm các bài viết cùng danh mục Hỏi đáp. Mọi ý kiến thắc mắc hãy comment bên dưới, chúng tôi sẽ phản hồi sớm nhất có thể. Nếu thấy hay hãy chia sẻ bài viết này cho nhiều người được biết. OVS chúc bạn ngày vui vẻ

The Latest

Copyright © 2015 Flex Mag Theme. Theme by MVP Themes, powered by Wordpress.

To Top